Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

”Hãy trở về để thấy và tin vào sự thật


Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”
Hãy trở về để thấy và tin vào sự thật
QĐND - Chủ Nhật, 31/03/2013, 22:5 (GMT+7)
QĐND - Trong suốt 36 năm trước khi trở về quê hương lần đầu tiên, Tổng biên tập kiêm nhà báo Việt kiều Nguyễn Phương Hùng của trang web hải ngoại kbchn.net thừa nhận, đó là quãng thời gian ông mù tịt thông tin về tình hình đất nước và đã không ít lần tham gia các cuộc biểu tình chống đối Việt Nam ở Mỹ. Nhưng sau lần đầu trở về quê hương, ông đã thay đổi hẳn cách nhìn về Việt Nam. Chia sẻ với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, ông Hùng đã tâm sự nhiều câu chuyện trong hành trình “trở về” nguồn cội...
Vượt qua quá khứ nặng nề
- Xin ông cho biết ông đã trở về Việt Nam bao nhiêu lần?
- Lần đầu tiên tôi về nước là vào tháng 9-2011 để dự Hội nghị Người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất. Từ đó đến nay, tổng cộng tôi đã trở về 6 lần trong 18 tháng. Lần nào về tôi cũng chụp rất nhiều ảnh, quay những thước phim phóng sự, tư liệu… rồi đưa lên trang web kbchn.net.
- Vậy trước đây cũng như hiện nay, trang web của ông tập trung vào những nội dung gì?
- Từng là một cựu quân nhân dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa nên tôi muốn lập ra một trang web để lưu giữ và ghi lại lịch sử của những người lính dưới chế độ này. Nhưng giờ đây, hai phần ba tin tức của trang web là các tin trong nước, có thể do tôi tự viết hoặc chọn lọc đăng lại của báo chí trong nước.
- Ông có thể cho biết do đâu ông quyết định thay đổi như vậy?
- Ngay lần trở về đầu tiên đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ. Tại sao mình mãi ám ảnh, than vãn về quá khứ để cuối cùng cũng chẳng giải quyết được gì, trong khi đất nước Việt Nam đã và đang có rất nhiều sự thay đổi? Thực sự tôi đã bị bất ngờ trước những hình ảnh thực của đất nước sau 36 năm lưu lạc, không như những gì tôi hình dung và tưởng tượng.
Nhà báo Nguyễn Phương Hùng. Ảnh: Xuân Phong.
Thực tế, suy nghĩ của tôi đã bắt đầu có chuyển biến từ năm 1995, sau khi Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn dỡ bỏ cấm vận chống Việt Nam. Khi đó, tôi đã viết một lá thư cho ông Bin Clin-tơn, trong đó đặt câu hỏi người Mỹ quan niệm thế nào là nhân quyền? Mỹ đã công nhận Việt Nam là nơi có nhân quyền hay sao mà đã giải tỏa cấm vận? Tôi đã nhận được câu trả lời rằng chủ trương của nước Mỹ là họ muốn đặt vấn đề liên kết tất cả các nước trên thế giới. Từ đó, tôi nghĩ rằng như vậy là người Mỹ đã công nhận Việt Nam là một quốc gia trong cộng đồng thế giới. Tôi cũng nghĩ, dỡ bỏ cấm vận sẽ đem lại lợi ích cho chính người Mỹ và nhân dân Việt Nam. Vậy hà cớ gì mình là người Việt Nam lại quá nặng nề với quá khứ và có những hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc?
Bên Mỹ, sự thực là vẫn còn một bộ phận nhỏ cộng đồng người Việt mang tâm lý nặng nề về quá khứ, thậm chí có suy nghĩ và hành động cực đoan và dường như với họ rất khó thay đổi. Nhưng tôi vẫn nghĩ, mình đã thay đổi được thì không lý gì họ lại không thể.
- Như vậy, phải chăng qua trang web của mình, ông mong giúp họ thay đổi cách nhìn?
- Tất nhiên là tôi rất mong được như vậy nhưng chưa dám nói hiệu quả tới đâu. Tôi không bình luận theo các chủ ý cá nhân của mình trong các tin, bài hay hình ảnh, clip đưa trên web. Tôi chỉ đưa một cách khách quan, trung thực những hình ảnh đổi mới ở Việt Nam, những hình ảnh đất nước đang trong quá trình xây dựng và phát triển, cùng những thành công của giới trẻ…
Chúng tôi thống kê, kbchn.net có lượng độc giả tại Mỹ nhiều gấp 5 lần trong nước. Điều đó chứng tỏ cộng đồng Việt kiều bên Mỹ cũng rất quan tâm tìm hiểu đất nước.
Lời nhắn: “Ai chưa về Việt Nam hãy về một lần cho biết”
- Vậy theo ông, tại sao ở Mỹ vẫn có một bộ phận cộng đồng mang tâm lý chống lại đất nước và có các hành động phá hoại trong nước?
- Từng là người trong cuộc, tôi hiểu rất rõ nội tình chuyện này. Trong bộ phận nhỏ cộng đồng chống đối hiện nay phần lớn là những người đã cao tuổi, không thạo về máy tính hay Internet nên việc cập nhật thông tin về tình hình đất nước hạn chế. Họ đã bị hướng dẫn sai lạc để hiểu lầm về tình hình đất nước. Cộng thêm những tư tưởng cực đoan, lỗi thời nên càng dễ để bị lừa gạt bởi các trò xuyên tạc sự thật mang mục đích chính trị.
Lý do quan trọng nữa là những người này chưa một lần trở lại đất nước nên càng bị “mù lòa” trước sự thật. Như trường hợp của tôi, nếu không có lần về Việt Nam tháng 9-2011, có lẽ tôi sẽ không bao giờ mở mắt thấy được thực tế tình hình đất nước. Khi trở lại Mỹ, nhiều người đã không tin những gì tôi nói, những gì tôi đưa lên trang web. Họ còn cho tôi là ngụy biện để che đậy hoặc biện minh cho hành động mà họ gọi là “phản bội” cộng đồng. Tôi cũng không hiểu tại sao họ lại coi việc tôi quay trở về với cội nguồn dân tộc, với đại đa số đồng bào là sự “phản bội”.
Nhưng rồi dần dần qua những chuyến đi sau này, với sản phẩm là những bức ảnh, thước phim video và bài viết của tôi, đã có nhiều người bắt đầu tin và cũng báo tin cho tôi là họ đã về Việt Nam như lời kêu gọi của tôi: “Ai chưa về Việt Nam hãy về một lần cho biết” trên kênh truyền hình VTV4. Qua Báo Quân đội nhân dân, tôi cũng xin gửi lại lời nhắn nhủ này tới kiều bào ở hải ngoại. Bà con hãy trở về và tự mình tìm câu trả lời, chứ đừng tin vào những lời kể lại đã bị bóp méo nhằm mục đích tuyên truyền sai trái, phản động về đất nước. Cũng có nhiều phản hồi từ độc giả khuyến khích, động viên tôi tiếp tục những gì đang làm trên kbchn.net.
- Có cơ hội đi nhiều nơi ở Việt Nam, ông có suy nghĩ gì khi một số tổ chức phản động lưu vong ở Mỹ luôn đòi hỏi dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam?
- Ở bên kia chúng tôi cũng bị họ tuyên truyền là ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền nhằm lôi kéo nhiều người tham gia các hoạt động chống phá trong nước. Tôi thừa nhận mình đã bị ít nhiều tác động. Nhưng đó là chuyện trước đây. Những tuyên truyền về “đàn áp tôn giáo” ở Việt Nam đã hoàn toàn biến mất trong tôi khi về nước, tôi được chứng kiến kiến trúc đồ sộ của Đại Chủng viện (Công giáo) Long Khánh hay chùa Bái Đính ở Ninh Bình được công nhận là lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Làm sao có thể tin có đàn áp tôn giáo khi ở nhiều nơi tôi đi qua, rất nhiều chùa chiền, nhà thờ được xây dựng dọc bên đường Quốc lộ 1 từ ngã tư Tam Hiệp đến Long Khánh, với những buổi thánh lễ ngày chủ nhật giáo dân đứng chật thánh đường, người dân tấp nập thăm viếng chùa chiền... Các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo tự do phát triển ở Việt Nam. Lễ Phật đản vừa qua tôi cũng có mặt tại Việt Nam nên đã được chứng kiến khắp nơi tưng bừng mừng Đức Thích Ca đản sinh. Ngoài tôn giáo, tín ngưỡng cũng được tự do phát triển, thí dụ hầu đồng đã được phép tái hoạt động.
Tôi đã đi, đã thấy, đã tin và vì đã tin nên tôi phải viết, viết sự thật bằng tiếng nói trung thực của người làm báo. Những hình ảnh đó tôi đã đưa hết lên trang web rồi nhưng tôi cũng không bình luận gì thêm để tự mọi người nhìn vào đó và suy ngẫm xem Việt Nam có tự do tôn giáo hay không.
Tôi khâm phục!
- Ở Mỹ vẫn tồn tại một số tổ chức phản động luôn rêu rao Việt Nam đàn áp nhân quyền. Vậy thực chất hoạt động của các tổ chức này ở bên đó là như thế nào?
- Tôi công khai lên án tất cả những tổ chức chống đối Nhà nước Việt Nam như Chính phủ Việt Nam tự do của ông Nguyễn Hữu Chánh, Việt Nam cộng hòa Foundation của Hồ Văn Sinh, tổ chức Việt Tân… Hay các tổ chức đòi tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam của linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Ngô Thị Hiển… Và nhất là tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam.
Thực ra, những tổ chức này không gây được ảnh hưởng đáng kể cho cộng đồng bên đó. Như tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam đã tự trao giải nhân quyền cho toàn những người chống phá Nhà nước Việt Nam để được xuất ngoại, do Việt Tân bảo trợ.
Các tổ chức này luôn tìm cách đề nghị Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” (CPC). Nhưng tôi còn nhớ, có lần chính ông Đại sứ Mỹ trước đây là Mai-cơn Mi-ha-lắc (Michael Michalak) đã nói rằng: “Muốn đặt một quốc gia vào danh sách CPC đòi hỏi nhiều điều kiện. Tôi không thấy chúng ta có lợi ích gì trong việc đưa Việt Nam trở lại danh sách này”.
Tựu trung các hành động phản động đó đều nhằm nuôi tham vọng gây mất ổn định tình hình trong nước, làm suy yếu và lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản…
Hiện nay họ đang tích cực xúi giục người thiếu thiện chí trong nước đòi bỏ Điều 4 trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thậm chí đòi bỏ cả bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Theo tôi biết, họ sống dựa vào tiền của những thế lực thù địch với Việt Nam, nên cần nói và hành động theo lập trường của các thế lực thù địch đó. Vì vậy họ buộc phải khoét sâu vào các vấn đề như dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo… ở Việt Nam để có việc làm nhằm nhận được tiền.
- Ông suy nghĩ thế nào về những hành động này?
- Họ không chịu hiểu một thực tế rằng, chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn sau chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam có thể nói đã có được thời gian hòa bình lâu dài và có sự phát triển gần như “lột xác”. Đó chính là nhờ Việt Nam đã giữ được chính trị ổn định, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, đời sống người dân được bảo đảm, vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế, được nhiều nước công nhận. Ở Việt Nam, tôi không gặp lực lượng quân đội hay cảnh sát có vũ trang trên đường như ở Mỹ. Điều đó chứng tỏ sự ổn định về an ninh chính trị ở Việt Nam, sự an toàn của người dân được bảo đảm. Như thế chính là thiết thực bảo đảm nhân quyền cho người dân.
Tôi thực sự khâm phục về khả năng điều hành đất nước của Nhà nước Việt Nam trong hơn 3 thập niên qua. Tôi đã nhìn thấy những tòa nhà cao tầng từ những thành phố tôi đi qua như Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, TP Hồ Chí Minh, Long Khánh và Cần Thơ cũng như các thành phố khác của miền Tây Nam Bộ, cùng những khu resort sang trọng ở Đà Nẵng… Tôi chưa có cơ hội đi hết những nơi khác ở Việt Nam, nhưng tôi tin rằng cũng đã có nhiều đổi mới.
- Xin cảm ơn ông!
MỸ HẠNH-XUÂN PHONG

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

Mùa phượng tím bên lò phản ứng hạt nhân Đà lạt

NVM blog - Nhân sự kiện Triều Tiên đang mạnh mẽ phản ứng Mỹ bằng sức mạnh vũ khí hạt nhân, lại nhớ về bài báo mình viết về lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt nhân chuyến đi năm 2010. Bài ban đầu rút tít "Mùa phượng tím bên lò phản ứng hạt nhân" nhưng suýt bị cho vào sọt rác...Sau anh Hồng Thanh Quang bên An ninh thế giới cho đăng luôn với độ dài...gấp đôi và cái tít máu chiến như ở dưới đây...
Mùa phượng tím bên lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, ảnh: NGUYÊN MINH

Trang nhất > An Ninh Thế Giới Cuối Tháng > Khoa học & Văn minh
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: Một phần những bí mật tiềm ẩn
4:09, 03/07/2010



Tọa lạc trên quả đồi lộng gió phía Đông Bắc thành phố ngàn hoa, con đường nơi có lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hôm nay mang một cái tên khá độc đáo "đường Nguyên tử lực". Cái tên ấy có từ năm 1958, khi chính quyền Sài Gòn cũ đã thành lập Cục Nguyên tử lực và đến năm 1961, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt có diện tích 21 ha, hoàn thành vào tháng 12/1962.
Ra đời sớm nhất Đông Nam Á, nhưng…
Lò Đà Lạt khi ấy là loại lò phản ứng nghiên cứu TRIGA - MARK II của hãng General Atomic (Mỹ) sản xuất, có công suất 250 KW. Lò tuy do người Mỹ thực hiện nhưng vẫn có dấu ấn "made in Việt Nam" khi phần vỏ lò do kiến trúc sư tài ba người Việt Nam nổi tiếng thế giới lúc bấy giờ, ông Ngô Viết Thụ thiết kế. Ông Thụ còn là tác giả thiết kế Dinh Độc Lập... Có lẽ là một người lãng mạn, biết cả hội họa và âm nhạc, nên khi thiết kế Lò hạt nhân Đà Lạt, ông đã đặt nó trên quả đồi đẹp nhất thành phố hoa và vẽ phần trung tâm công trình mang dáng dấp của một hạt nhân nguyên tử được phóng đại.
TS, KTS Ngô Viết Nam Sơn, con trai KTS Ngô Viết Thụ sau này có lần kể lại: "Trong công trình Trung tâm Nguyên tử Đà Lạt, ông thay đổi thiết kế khối hình vuông thô kệch ban đầu của Mỹ bằng cơ cấu mang hình tượng "Lò Bát quái" để nhắc nhở việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình".
Cùng thời điểm này, Mỹ cũng xây dựng lò hạt nhân có công suất tương tự ở Indonesia, Malaysia nhưng lò Đà Lạt vẫn giữ một kỷ lục khác, là lò hạt nhân đầu tiên ở Đông Nam Á đạt trạng thái "tới hạn" vào ngày 26/2/1963 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 3/3/1963.
Đầu tư thiếu đồng bộ, tình trạng mất an ninh, không ổn định chính trị, sau Tết Mậu Thân năm 1968, lò phản ứng gần như không hoạt động...
Sơ đồ quy hoạch tổng thể hình... "bát quái".



Những người tiếp quản đầu tiên
Một trong những người cộng sản đầu tiên có mặt tại Lò Đà Lạt năm 1975 giúp tôi giải mã những câu hỏi ấy là giáo sư, tiến sĩ, Thiếu tướng Nguyễn Quỳ, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Quốc phòng), từng giữ chức Trưởng đoàn A1, tiếp quản lò Đà Lạt lúc bấy giờ. Tiếp tôi trong ngôi nhà nhỏ tĩnh lặng ở phố Tô Vĩnh Diện (Hà Nội), Thiếu tướng Nguyễn Quỳ kể:
"Tôi đánh giá rất cao tầm nhìn xa của anh Hoàng Đình Phu, Viện trưởng Viện Kỹ thuật quân sự lúc bấy giờ. Từ tháng 3/1975, Viện được trên cho phép vào tiếp quản cơ sở kỹ thuật tại các nơi mà ta vừa giải phóng. Anh Phu vào tiếp quản ở Đà Nẵng đã rất nhanh nhạy, dự báo địch sẽ thua nhanh, thành lập đoàn vào quản lý các cơ sở kỹ thuật tại Đà Lạt do anh Ngô Đình Liêu, Đại uý làm Trưởng đoàn. Kỹ thuật hạt nhân luôn luôn là top secret (bí mật tuyệt đối) giữa các siêu cường lúc đó và có lẽ anh Phu cũng như những lãnh đạo cấp cao đã nhìn nhận thấy tầm quan trọng của Lò Đà Lạt. Khi đoàn vào tới Đà Lạt, địch đã bỏ chạy, Giám đốc Lò Đà Lạt Ngô Đình Long cũng đã chạy trốn, chỉ còn một số cán bộ nghiên cứu thuộc chế độ cũ, không có chức danh lớn vẫn ở lại.
Anh Liêu đã thực hiện rất tốt vai trò tiếp quản. Thực ra trong bối cảnh hỗn loạn thời chiến bấy giờ, rất có thể lò phản ứng cũng bị mất mát vì nạn "hôi của". Nhưng ta vào sớm nên lò vẫn còn nguyên vẹn, kể cả hồ sơ, tài liệu. Chỉ có một ít máy điện tử được chuyển về Sài Gòn trước khi Đà Lạt thất thủ cũng được ta tìm lại ngay.
Sau khi ổn định tổ chức lò, anh Liêu về ngay Sài Gòn, liên hệ với Cục Nguyên tử lực của chế độ cũ, tìm gặp Tiến sĩ Lê Văn Thới, Giám đốc Cục. Ông Thới là tiến sĩ hoá học tốt nghiệp ở Pháp, rất ủng hộ ta. Ông bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu, kể cả một số máy móc di dời từ Đà Lạt về. Riêng hồ sơ, tài liệu có tới hàng nghìn cuốn, bao gồm cả tài liệu về quản lý lò và tài liệu về nghiên cứu khoa học hạt nhân. Nhờ có chúng mà ta nắm bắt được ngay toàn bộ về lò, đồng thời có nguồn tài liệu quý giá cho nghiên cứu khoa học sau này".
Lúc này, một câu hỏi lớn đặt ra là những thanh nhiên liệu của Mỹ hiện đang ở đâu? Nhiên liệu hạt nhân luôn là của hiếm, là "máu" của lò hạt nhân, rất ít quốc gia có được. Qua tài liệu và phản ánh của những người ở lại, ta đã biết thông tin người Mỹ đưa các thanh nhiên liệu về nước. Song, chúng ta vẫn hi vọng… Ngay sau khi tiếp quản Sài Gòn, đã có một cuộc "sục sạo" khắp nơi, từ sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà đến khu Long Bình... để tìm dấu vết các thanh nhiêu liệu. Nhưng ta không tìm được gì vì quân đội Mỹ đã kịp dùng máy bay C-130 mang tất cả các thanh nhiên liệu về Mỹ…
Tất cả những công việc trên mới là giai đoạn tiếp quản "bước một". Viện trưởng Hoàng Đình Phu quả là một nhà tổ chức giỏi. Ông sớm nhìn ra sự cần thiết phải khôi phục hoạt động của lò, phải có một đội ngũ chuyên gia hùng hậu hơn vào tiếp quản. Tháng 7/1975, ông đề xuất thành lập Đoàn công tác A1 của Bộ Quốc phòng vào tiếp quản lò hạt nhân, giao cho ông Nguyễn Quỳ, lúc đó mới mang quân hàm Trung tá, làm Trưởng đoàn và lần lượt hàng chục cán bộ khác, hình thành một bộ máy quản lý, làm hồi sinh lò Đà Lạt.
Ông Quỳ trước đó đã tốt nghiệp tiến sĩ hoá học tại Đức, có thâm niên 2 năm, mỗi tuần 2 lần vào nghiên cứu tại một lò hạt nhân lớn 2 MW tại Đức. Ông cũng là người có nhiều mối quan hệ quen biết với giới khoa học ngoài dân sự, được ông Phu hi vọng có thể "kết nối", khôi phục hiệu quả hoạt động của lò Đà Lạt. Sau này, chính ông Quỳ là người đã gắn bó nhiều năm với sự khôi phục, phát triển lò, được bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt.
Những người "ở lại"
Nói đến lò hạt nhân Đà Lạt, không thể không nhắc đến những người từng làm việc tại lò trong chế độ Sài Gòn cũ vẫn ở lại làm việc sau ngày giải phóng.
Đầu tiên phải kể đến ông Tôn Thất Côn, người gốc Huế, nổi tiếng học giỏi toán và từng tốt nghiệp kỹ sư nguyên tử ở Canada, về làm việc tại lò từ những ngày đầu. Trong ký ức của GS Nguyễn Quỳ, ông Côn là người hiền lành, sâu sắc và rất trách nhiệm. Đời sống vật chất ngày ấy rất khó khăn nhưng cả hai vợ chồng ông vẫn "chịu đựng được", có nhiều đóng góp thiết thực. Ông làm việc cho tới khi nghỉ hưu mới chuyển sang Mỹ sinh sống. Tiếp đó phải kể đến ông Võ Đắc Bành, từng tốt nghiệp tiến sĩ ở Pháp cũng tự nguyện ở lại làm việc nhiều năm. Rồi ông Trần Đình Thám, một chuyên viên về lò và hai tiến sĩ về máy tính từng tốt nghiệp ở Mỹ cũng cộng tác rất tốt với những đồng nghiệp mới…
Một câu chuyện xúc động đến bây giờ vẫn đọng trong ký ức họ là việc năm 1976, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đến thăm và động viên họ giữa những ngày đầy khốn khó ấy. Ông không vào hội trường, không nghe báo cáo mà đi thẳng vào lò, leo lên kiểm tra sau đó đi ra ngoài sân, kêu anh em lại gần, đứng xung quanh mình, chuyện trò rất thân mật. Ông rất quan tâm tới anh em từng làm việc trong chế độ cũ. Ông dành nhiều thời gian chuyện trò, giải đáp những thắc mắc của họ. Chuyến thăm chỉ diễn ra chóng vánh trong vòng một giờ đồng hồ nhưng quả thực đã để lại dấu ấn sâu đậm trong những "người cũ". Sau này anh em đều nói với tôi rằng, không ngờ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản lại dân chủ, gần gũi và tin tưởng chúng tôi như vậy. Nhiều người đã trút được "mối tơ lòng" còn vương vấn bấy lâu và hăm hở tiếp tục làm nhiệm vụ…" - Giáo sư Nguyễn Quỳ kể lại.
Ngày ấy, mọi cán bộ, nhân viên ở đây đều phải ăn độn bo bo nhiều hơn gạo. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tự tay viết thư cho lãnh đạo tỉnh Thuận Hải, đề nghị cứ mỗi tháng một lần giúp Viện Hạt nhân mua một xe cá biển chở từ Phan Rang lên. Nhờ vậy, hàng tháng mỗi người có được 2 - 3 kg cá để ăn. Còn chế độ bồi dưỡng độc hại phóng xạ mà đến nay họ vẫn nhận hàng tháng, cũng nhờ sự chỉ đạo cương quyết của Phó Thủ tướng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Phó Thủ tướng Tố Hữu…
500 hay…1.000?
Mười năm trời từ năm 1968 ngừng vận hành, đến năm 1978, với sự giúp đỡ của Liên Xô, chúng ta đã tiến hành khôi phục lò phản ứng, chính thức hoạt động từ đầu năm 1984. Lò mới khôi phục công suất 500 KW, gấp đôi lò cũ. Đến nay, vẫn từng có dư luận thắc mắc về sự nâng cấp này là quá… nhỏ, không ngang tầm. Có cả những người đã đổ lỗi cho lãnh đạo lò hạt nhân ngày ấy!
Tuy nhiên, Giáo sư Nguyễn Quỳ đã bật mí cho chúng tôi hay, sự thật thì khi đó, các ông Nguyễn Đình Tứ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân và Phạm Duy Hiển, Nguyễn Quỳ - Viện phó đều đã bàn bạc rất kỹ việc này. Họ đã xin ý kiến Bộ Chính trị về việc chọn công suất nâng cấp (việc này lúc đó không công khai).
Bộ Chính trị trả lời: "Cho phép nâng công suất lên mức tối đa có thể nhưng phải bảo đảm tuyệt đối an toàn". Sự chỉ đạo của Bộ Chính trị đã rõ "định tính", nhưng công suất tối đa là bao nhiêu lại thuộc phần việc "định lượng" của các nhà khoa học. Cuối cùng, cả 3 ông nhất trí đề nghị mức 1.000 KW trên cơ sở Indonesia là nước cũng nâng cấp từ lò Triga của Mỹ lên 1.000 KW và đã hoạt động an toàn nhiều năm.
Lựa chọn thế, nhưng khi phía Liên Xô sang làm việc, công suất được "kết luận" chỉ còn 500 KW. Điều này không thoả mãn tâm tư của giáo sư Nguyễn Quỳ. Với góc độ một nhà khoa học, một người nằm trong cấp uỷ, ông đã mạnh dạn gặp trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô để hỏi cặn kẽ việc này. Câu hỏi ông đưa ra rất thẳng thắn: "Tại sao Indonesia làm được 1.000 mà Liên Xô lại chỉ dám làm…500?". Ông ta cười lý giải: "1.000 hay 2.000 thì Liên Xô đều làm được thưa tiến sĩ. Liên Xô thì… không gì là không làm được. Nhưng Chính phủ Liên Xô giao cho chúng tôi giúp Việt Nam sao cho thật tốt, thật an toàn. Mà Việt Nam khí hậu, thời tiết, nhiều cái khác thế giới lắm. Việt Nam mà xảy ra mất an toàn thì Liên Xô còn mất uy tín với thế giới. Đây không chỉ là vấn đề  kỹ thuật mà còn là vấn đề chính trị. Ta chọn 500, để làm cho thật tốt là cũng… tốt lắm rồi!".
Thực tế, mấy chục năm qua, Lò Đà Lạt đã hoạt động liên tục, trung bình 1.300 giờ/năm, được Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đánh giá là "lò phản ứng được khai thác có hiệu quả nhất trong các nước đang phát triển"



  Nguyễn Văn Minh

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Nỏ thần ngày nay


Máy bay hiện đại nhất Việt Nam luyện tập chiến đấu

Sau những tiếng gầm rú inh tai, từng chiếc máy bay tiêm kích đa năng Su-30MK2 lao vun vút trên đường băng rồi bay lên trời. Nhiệm vụ giả định của chiến đấu cơ này là tập kích đường không, làm tê liệt hệ thống chỉ huy của địch.
8X lái máy bay Su-30 / Su-30 xuất kích

* Video: Máy bay Su-30MK2 xuất kích
Trung đoàn Không quân 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân) ở sân bay quân sự Sao Vàng (huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá) đang tiếp quản và sử dụng lô máy bay tiêm kích đa năng Su-30MK2 - chiến đấu cơ hiện đại nhất Việt Nam.
Trước buổi bay luyện tập, Đại tá Phạm Như Xuân - Trung đoàn trưởng 923 hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho các tổ bay thực hiện nghiêm ngặt các thao tác, quy trình.
Phi công Nguyễn Duy Hùng (29 tuổi) trước giờ cất cánh. Anh Hùng là một trong 9 phi công trẻ thế hệ 8x của Trung đoàn được lái máy bay chiến đấu SU-30MK2.
Sau gần một năm tập luyện, toàn bộ 25 phi công của Trung đoàn đều đã làm chủ được chiếc máy bay Nga thế hệ thứ 4.
Su-30MK2 có 2 buồng lái, mỗi buồng một phi công làm các nhiệm vụ khác nhau.
Phát triển trên nền tảng dòng Su-27, máy bay Su-30 được đánh giá có nhiều ưu thế hơn các dòng máy bay tiêm kích chủ lực thế hệ 4 của Mỹ như F-15 Eagle, F-16 Fighting Falcon, thậm chí có thể thách thức siêu chiến cơ F-22 Raptor và F-35 Lightening thế hệ 5.
Pha cất cánh nhả khói cuộn tròn phía sau của Su-30MK2.
Chỉ trong vài giây, chiến đấu cơ bay vút lên trời. Đặc điểm của Su-30MK2 là làm nhiệm vụ tập kích đường không để chế áp và làm tê liệt hệ thống chỉ huy, kiểm soát, thông tin tình báo các cấp được đối phương bố trí ngay từ thời điểm phát động tiến công hoặc phản công. Ngoài ra, Su-30MK2 có thể ngăn chặn lực lượng tiếp viện chiến đấu của đối phương tiếp cận hoặc tập hợp lực lượng phản công.
Chiến đấu cơ Su-30MK2 chụp từ trên không. Ảnh: Trung đoàn 923 cung cấp.
Hoàn thành buổi bay, Su-30 bung dù để giảm tốc khi hạ cánh.
Mọi hoạt động của các chiến đấu cơ được điều khiển từ đài chỉ huy.
Ngay sau khi máy bay về gara, lực lượng kỹ thuật kiểm tra các thông số trong quá trình bay.
Các phi công ăn mừng sau buổi bay an toàn, thành công.
Trung đoàn không quân 923 (mật danh Đoàn Yên Thế) được thành lập ngày 4/8/1965. Đây là trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 của Không quân Nhân dân Việt Nam ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Hoàng Hà

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Các nhà "rận chủ" hãy vào đây mà xem cái gọi là tự do nhân quyền Mẽo


Hoa hậu Ngọc Hân xem quả bom 7 tấn

 - Quả bom nặng gần 7 tấn cùng hàng trăm loại bom, mìn, vật liệu nổ còn sót lại từ thời chiến tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng Công binh, Hoa hậu Ngọc Hân cùng các em học sinh đã đến thăm quan bảo tàng trong ngày đầu khai mạc triển lãm.
Quả bom lớn nhất đang được trưng bầy tại Bảo tàng công binh (số 290B Lạc Long Quân, Hà Nội), cùng những quả bom nhỏ được xếp thành hình "siêu pháo đài bay B-52" đặt ngay trung tâm bảo tàng.








Hoa hậu Ngọc Hân cùng các em học sinh có giờ học lịch sử bổ ích tại bảo tàng Công Binh



Các loại mìn sát thương



Dàn ống phóng đạn đinh Rocket

Các loại thủy lôi

Các em học sinh trường tiểu học Chu Văn An có giờ học lịch sử tại triển lãm

    Bom quả dứa chứa tới 450 viên bi, tầm sát thương 15 mét.



Quả bom lớn nhất đang được trưng bầy tại Bảo tàng công binh (số 290B Lạc Long Quân, Hà Nội), cùng những quả bom nhỏ được xếp thành hình "siêu pháo đài bay B-52" đặt ngay trung tâm bảo tàng.
Bom BLU-82 nặng gần 7 tấn (còn được biết đến với tên "Daisy Cutter"), do trọng lượng và kích thước lớn nên quả bom được chở bằng máy bay vận tải C130 và mỗi chuyến bay cũng chỉ chở được tối đa 2 quả. Quả bom được kích nổ ngay trên mặt đất (không tạo ra hố bom) và có thể san phẳng mọi thứ trên một diện tích lên tới 100.000 m2 nên được sử dụng nhằm phát quang cây cối làm bãi đáp trực thăng hoặc dàn trận địa pháo.


Quả thủy lôi lớn nhất với đường kính trên 2,5 mét, chứa 180 kg thuốc nổ C4. Loại thủy lôi này là "vũ khí tối mật", chỉ có 10 quả được sử dụng nhằm đánh sập cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Chi phí để nghiên cứu và sản xuất 10 quả thủy lôi này ước tính lên tới 1 tỷ USD (theo thời giá năm 1965).


Trong giai đoạn 1975-2000 bom mìn còn sót lại sau chiến tranh đã khiến hơn 40.000 người chết, trên 60.000 người bị thương, tàn phế.




Sa bàn tái hiện cảnh tàn phá do bom Mỹ đánh vào bênh viện Bạch Mai tháng 12 năm 1972


Trong triển lãm cũng trưng bầy thiết bị bảo hộ, máy móc phục vụ công tác rà phá bom mìn
Phạm Hải

Bầy quạ đen ít đọc sách còn...la làng!




Bầy quạ đen ít đọc sách còn...la làng!
Bài viết của ông Mục sư Thân Văn Trường, TP.HCM có đoạn:
"Chân lý là sự thật, nhưng có những sự thật người ta sợ hãi không muốn tiếp cận, như sự thật lạc đường và tội lỗi của các ông tổ cộng sản Marx,......."

Thật là ngu dốt khi tên mục sư này viết rằng Marx là ông tổ cộng sản, lạc đường và tội lỗi!
Không biết tên này đã đọc được bao nhiêu cuốn sách của Marx và Marx đã viết gì sai?

Trong khi chẳng những trên quê hương của ông là nước cộng hòa liên bang Đức họ kính trọng Marx là một vĩ nhân mà nhiều nơi trên thế giới. Những đại lộ, những con đường lớn mang tên Karl Marx ở khắp nước Đức.
Sách của Marx vào những năm khủng hoảng như hiện nay bán chạy hơn bao giờ hết. Tư tưởng của Marx đang lên ngôi trở lại trên đất châu Âu thì ngay chính những tên thuộc vào hàng quạ đen, chưa bao giờ một lần cầm cuốn sách của Marx trong tay mà dám lên tiếng sỉ vả.
Những kẻ dựa trên danh nghĩa theo chủ nghĩa Marx để giết người như Mao, Pol Pot, nhưng không thể nào đổ hết tội cho Marx!
Cũng giống như những tên cha cố bán nước thời xưa ở Việt nam, hay ở nước ngoài lạm dụng tình dục trẻ em, làm ăn với Mafia như trong Vatican,.... cũng không thể cho rằng đó là tại Giê su dậy họ như vậy.
(Theo Fb Karel Phùng)



Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Chuyện bóng anh hùng và cách nhìn nặng chất cực đoan, xơ cứng của các "nhà tuyên huấn"


Trọng một cách viết, trách một cách đọc

NGUYỄN THẾ THANH | 22/03/2013 09:48 (GMT + 7)
TT - Tôi đọc truyện ngắn Bóng anh hùng của Doãn Dũng muộn hơn 
rất nhiều người, vào một buổi trưa công sở yên ắng. Câu chuyện của 
một hồn ma chiến binh còn rất trẻ, lại là đứa con duy nhất của một gia 
đình liệt sĩ, đã lay động mạnh trái tim tôi và kéo tôi đi một mạch đến dòng cuối cùng. Không một chi tiết nào của truyện gợi lên “sự khinh miệt”, “sự phỉ báng”, “sự đớn hèn”.
Tràn ngập trong từng trang truyện là niềm xúc động về cách thể hiện tình yêu mà người mẹ và cũng là người vợ liệt sĩ dành cho con trai duy nhất của mình: kiên quyết đưa con nhập ngũ, kiên quyết đưa con trở lại đơn vị vào mùng 1 tết để không vi phạm điều lệnh quân đội, kiên quyết đi làm nhiệm vụ thăm tết các gia đình chính sách vào đúng ngày giỗ con.
Tưởng như tình yêu ấy quá “gỗ đá” nếu như không có các chi tiết truyện lay siết trái tim người đọc đến rơi nước mắt, như chi tiết người mẹ quyết liệt dùng xe đạp chở con trở lại đơn vị vào sáng sớm mùng 1 tết, nhưng khi lên xe thì hướng mà bà đạp tới lại là hướng ngôi nhà của mình, chỉ đến khi con trai nhắc bà mới sực tỉnh quay đầu xe!
Thì ra tận đáy lòng người mẹ “gỗ đá” ấy, quán tính thông thường vẫn là nỗi khát khao được cùng con đón tết tại căn nhà vốn đã quanh năm hiu quạnh bóng chồng, bóng con.
Hay như chi tiết này nữa: khi đồng đội tìm thấy hài cốt của con trai trong cái hang mà anh đã ngã xuống “Mẹ ngất đi khi nhìn thấy mảnh giấy có dòng chữ tôi viết tên tuổi, quê quán, đơn vị hàn kín bằng nilông rồi đút vào túi áo ngực trước khi lên hang. Mẹ bế từng khúc xương tôi vào lòng”. Không còn được bế con vì nó đã chết trong khi làm nhiệm vụ vì Tổ quốc thì người mẹ ấy bế những gì còn lại của đứa con bà đã dứt ruột sinh ra.
Trong trái tim người mẹ, không có sự hi sinh nào là “nhạt toẹt” khi đứa con biết rời mái nhà ấm cúng, thân thuộc của mình để đi về hướng Tổ quốc cần.
Và tận đáy lòng, chẳng người mẹ nào lại cần danh hiệu này khác hơn chính đứa con sống cạnh mình bằng xương bằng thịt.
Nếu không có những bà mẹ vĩ đại như bà mẹ trong truyện ngắn Bóng anh hùng và hàng triệu bà mẹ khác, nếu như không có những đứa con biết nghe lời mẹ đi làm nhiệm vụ và mất đi tính mạng vì nhiệm vụ ấy, đất nước chúng ta sẽ ra sao khi phải đi qua ngần ấy cuộc chiến tranh giữ nước dai dẳng và ác liệt?
Vậy sao có thể hiểu rằng miêu tả nhân vật người chiến sĩ trẻ đã hi sinh trong truyện và người mẹ trong truyện là hạ thấp người lính và hậu phương người lính?
Đọc những thông tin mấy hôm nay trên báo Tuổi Trẻ về truyện ngắn Bóng anh hùng, tôi càng thấm thía lời tự răn lấy mình khi còn đương nhiệm công tác quản lý văn hóa.
Làm quản lý văn hóa tức là vừa làm cảnh sát vừa làm bà đỡ. Làm cảnh sát thì dễ rồi, cái gì sai quy định thì thổi còi. Nhưng làm bà đỡ thì không dễ chút nào.
Cái đã quen, đã cũ thì cần gì tới sự đỡ đần. Cần đến vai trò của “bà đỡ” là ở chính những khi xuất hiện cái mới, cái chưa quen. Chưa cảm được, chưa hiểu được cái mới đâu phải chỉ do người sáng tạo ra nó, mà rất nhiều khi do sự giới hạn của người thưởng thức.
Vậy nên chăng thay vì vội vã quy kết, chụp mũ cho tác giả, hãy bình tĩnh xem xét một cách công bằng năng lực sáng tạo và cả năng lực thưởng thức sự sáng tạo nữa.
Với tôi, một người có cha hi sinh trong cuộc chiến tranh giữ nước và từng trải nghiệm công tác quản lý trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, tôi thật sự trân trọng cách viết độc đáo về chiến tranh của tác giả Doãn Dũng trong truyện ngắn Bóng anh hùng, và thật tiếc không thể không bày tỏ một lời trách về cách đọc không xuất phát từ văn chương của những bạn đọc nào đó.


Bóng anh hùng

TRUYỆN NGẮN CỦA DOÃN DŨNG | 20/03/2013 07:51 (GMT + 7)
Đúng là tôi đã chết. Tôi đã thành con ma trên núi. Mẹ tôi nhận được giấy báo tử ở nhà, trong giấy ghi rõ tôi đã “hy sinh vì Tổ Quốc”.



Nhưng tôi thì luôn nghĩ rằng tôi đã chết vì mẹ mình. Chính mẹ đã đưa tôi đến thế giới lạ lùng này.
Xin các bạn chớ hoảng sợ. Người chết không hại được người sống. Người chết chẳng qua là người sống được chuyển đến thế giới khác, cũng có tình cảm và suy nghĩ như người trên trần gian. Sợi dây liên lạc giữa hai thế giới được thông qua một người có khả năng hiểu ngôn ngữ của người chết, như tay nhà văn này chẳng hạn. Hắn nghe tôi kể chuyện và chép lại bằng thứ ngôn ngữ các bạn vẫn hay dùng. Tuy vậy, nếu tình cờ đọc được câu chuyện này mà các bạn không tin thì cũng chẳng sao. Thường vẫn có quá nhiều câu chuyện được người ta kể như thật, nhưng thực ra chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.
Đã nhiều năm tôi không về thăm nhà, nơi trước đây tôi đã từng sống cùng mẹ. Đừng tưởng người chết rồi là hết, là chẳng còn gì để mà bận tâm. Nghĩ như vậy là sai lầm! Người chết vẫn về thăm nhà vào những dịp lễ tết, nhất là ngày giỗ của mình. Thằng Quý hằng năm vẫn sửa soạn ba lô về quê ăn giỗ mình, háo hức cứ như hồi còn sống được đi tranh thủ sau đợt bắn đạn thật đạt điểm cao.
Căn hộ của mẹ tôi bé xíu, không có nhà xí riêng, ở trên tầng năm của khu tập thể. Hồi còn bé, nửa đêm phải đi xuyên qua dãy hành lang lạnh lẽo hun hút gió, tối như hũ nút để đến được cái nhà xí dùng chung của mấy hộ gia đình là nỗi kinh hoàng của tôi. Không phải lần nào tôi cũng đến được đích an toàn, mà thường xuyên tè dầm dọc đường vì sợ ma. Tôi ao ước có một cái bô nhưng mẹ không mua. Mẹ bảo muốn rèn luyện tôi thành một người đàn ông mạnh mẽ.
Mẹ làm công tác xã hội ở phường. Hình như ở hội phụ nữa gì đó. Ban ngày mẹ đi họp, tối đến các gia đình tuyên truyền về sinh đẻ có kế hoạch, về chính sách mới hoặc bài trừ mê tín dị đoan. Mẹ rất bận.
Nhà chỉ có hai mẹ con, bố hy sinh ở chiến trường B. Hồi đầu chỉ được báo là mất tích. Mãi chẳng thấy ông về, sau giải phóng người ta làm lễ truy điệu liệt sỹ cho ông. Đến ngày tôi nhập ngũ, mẹ tôi vẫn chưa biết mộ ông nằm chính xác ở đâu.
Một ngày cuối hè, cái ngày mà tôi nhận được tin trượt đại học, mẹ đi làm về gọi tôi lại, bảo: “Thắng này, mẹ đăng ký cho con nhập ngũ đợt này”. Tôi ngơ ngác: “Nhà mình thuộc diện chính sách. Sao con phải đi?” Mẹ mở túi, lấy ra một tập tài liệu đánh máy, mắt vẫn dõi theo những dòng chữ, mồm thủng thẳng: “Ở nhà lêu lổng rồi lại hư mất”. Tôi năn nỉ: “Mẹ cho con thi đại học một năm nữa”. Mẹ vẫn cắm cúi với đống giấy tờ, lạnh lùng nhắc lại: “Mẹ đã đăng ký cho con rồi”.
Tôi biết tính mẹ. Mẹ đã phải thay bố vật lộn nuôi tôi, cuộc sống và công việc bắt bà phải hà khắc với chính bản thân mình và con cái. Tôi lại là thằng nhút nhát, từ bé chưa bao giờ dám cãi lời mẹ. Tôi ngậm ngùi chấp nhận sự sắp đặt của bà.
Trước ngày nhập ngũ, phường tổ chức một buổi mít tinh tiễn đưa tân binh lên đường. Mẹ cùng hội phụ nữ tặng quà cho chiến sỹ. Mỗi người được hai cái khăn mặt bông và hai tuýp thuốc đánh răng Bông Lan cứng như đất đồi. Khi trao quà cho tôi, mẹ giơ tay ra bắt, lắc lắc mấy cái, nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng rất quan cách: “Chúc đồng chí chân cứng đá mềm, hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc”. Tôi không dám nhìn mẹ, tôi cúi đầu xuống lí nhí câu cảm ơn. Tôi thấy mẹ xa lạ vô cùng!
Hôm sau tôi lên đường. Sân vận động gần nhà, nơi tôi vẫn đá bóng buổi chiều, chật ních tân binh và người thân đưa tiễn. Đơn vị về lấy quân mang theo rất nhiều vệ binh. Người ta đọc tên và từng người bước lên xe trong vòng tròn mà đám vệ binh đứng làm hàng rào. Những chàng trai ngày thường đá bóng vẫn hùng hổ bắt nạt tôi, bỗng mềm yếu một cách kỳ lạ, thò đầu qua cửa xe, nức nở khóc.
Mẹ không đưa tiễn tôi. Sáng hôm ấy mẹ bận việc, bà phải đi hòa giải cho một đôi vợ chồng muốn ly dị. Tôi rất muốn mẹ có mặt ở đây, vào lúc này.
* * *
Cái hang Giời Đánh là nhà của tôi và Quý. Thực ra trước đây nó không có tên, hoặc có tên mà chúng tôi không biết. Lính tráng đặt tên cho cái hang này sau cái chết của chúng tôi.
Hồi ấy đơn vị tôi nhận nhiệm vụ tái chiếm một số điểm cao trong dãy núi đá vôi của mặt trận. Chỉ huy đã cho tập kết một lượng thuốc nổ khá lớn trong hang để phục vụ công tác chiến đấu. Quý là chiến sỹ bám trụ trên hang trước tôi. Tôi mới được điều lên sau vụ trốn đơn vị về ăn Tết. Nếu so với cánh lính trận nói chung, thì công việc coi kho này thật an toàn và nhàn hạ. Ban ngày chúng tôi ngủ, tối thức nhận hàng của cánh vận tải gùi lên. Địa hình ở đây hiểm trở và ngay sát nách địch, nên cánh vận tải chỉ có thể hoạt động vào ban đêm.
Cái hang này không lớn, rộng độ vài mét và sâu hơn hai chục mét. Trên vòm hang, nhũ đá tua tủa chĩa xuống như những tấm sừng lọc thức ăn của con cá voi khổng lồ. Trong cùng hang có một ngách nhỏ bằng phẳng như lát bằng phiến đá to. Lòng hang rộng chúng tôi dùng làm kho, còn cái ngách nhỏ để ngủ.
Tôi nhớ rất rõ hôm ấy là ngày mười bốn tháng giêng, trời lạnh và mưa phùn. Đêm hôm trước chúng tôi nhận được một chuyến hàng lớn, cánh vận tải đông và hối hả hơn mọi khi. Những thùng gỗ thông màu xanh xếp chật lối đi. Sau khi kiểm đếm vào sổ sách xong thì trời sáng, chúng tôi chui vào ngách hang bắt đầu ngủ. Pháo địch bắn mạnh và nhiều hơn mọi hôm, tôi nghe thấy từng chặp, nổ từng loạt dài rền rền không dứt. Mạnh đến mức chúng tôi cảm nhận rõ sự rung rung chấn động của vách hang.
Ấy vậy mà chỉ năm phút sau chúng tôi chết, bất đắc kỳ tử như bị giời đánh. Cái chết không anh dũng, cũng chẳng hèn nhát nhưng lại nhạt toẹt. Một khối nhũ đá to hơn cột đình đã bị đứt chân do chấn động của cơn mưa đạn pháo, rơi thẳng xuống kích nổ đống vũ khí đạn dược bên dưới. Khối lửa bùng lên, tôi và Quý bị ép chết ngay lập tức. Ngách hang bị đá vùi kín mít. Lòng hang nóng bỏng, khói lửa quánh đặc như trong lò bát quái.
Vụ nổ khiến lòng hang biến dạng, vách hang rộng ra, vòm hang trơn tuột chẳng còn lấy một thanh nhũ đá, cứ như thể đứng trong một quả trứng khổíng lồ vậy.
Chúng tôi sang thế giới bên kia nhanh quá, chỉ trong nháy mắt, không từ từ, không hấp hối. Tim thôi đập và não ngừng hoạt động đến rụp một cái như tắt công tắc điện. Hồn tôi và Quý lìa khỏi xác, bật dậy nhìn nhau, rồi nhìn hai cái xác nát bét ri rỉ máu chảy của mình đang bị đá vùi lấp. Cả hai thằng đều không tin là thể xác mình đã chết, mình đã thành ma. Chúng tôi nhập lại vào xác, cố gắng lắm cũng không khiến được cái xác ấy cử động. Lạ thật! Vẫn thấy mình như đang sống, không chút đau đớn và có thể đi và nhìn xuyên qua vách núi.
Vậy là tôi đã thành ma. Ở những quả núi gần đó còn nhiều con ma khác, chúng đang ngủ. Ngày của dương gian là đêm của ma. Hai thằng chúng tôi chợt buồn ngủ rũ mắt, lục tục kéo nhau vào cái ngách hang đã bị bịt kín để tiếp tục giấc ngủ vừa bị cướp mất.
Ngủ một trận no mắt thì cánh vận tải mò lên. Mọi ngày giờ này cũng phải dậy để còn nhận hàng. Hôm nay cánh vận tải không gùi không khiêng gì cả, họ chỉ có đòn tre và võng, công cụ để vận chuyển thương binh tử sỹ. Họ lên tìm xác chúng tôi.
Một tay đứng trên đống đá vỡ vụn, soi đèn pin nhìn vòm hang nhẵn thín, thở dài: “Còn cái gì đâu, thành tro bụi cả rồi”.
Hai thằng chúng tôi thấy vậy gào toáng lên: “Ở đây, chúng tao ở đây”. Chúng tôi lồng lộn tìm mọi cách để báo hiệu nhưng người dương không nghe được tiếng người âm. Đám ấy như điếc lác cả một lũ với nhau. Chúng nhìn ngó một chặp, lấy đòn tre bới bới chọc chọc mấy cái rồi lắc đầu ngao ngán bỏ về.
* * *
Chết rồi tôi vẫn không nguôi giận mẹ.
Chỉ hai tuần trước đấy, mười giờ tối đêm ba mươi Tết tôi bò về đến nhà sau một chặng đường dài trốn tránh lực lượng kiểm soát quân sự. Mẹ đang làm cơm cúng tất niên, ngẩng lên thấy tôi lù lù đứng giữa nhà. Mẹ lạnh lùng hỏi: “Bỏ ngũ hả?” Tôi im lặng, không dám trả lời mà nhìn lên bàn thờ cầu cứu bố tôi. Trên ấy, khói hương nghi ngút, ánh mắt bố như hư ảo, không ấm cúng mà cũng chẳng ra lạnh lùng.
Tôi lăn ra ngủ vì mệt.
Pháo giao thừa nhà hàng xóm đã nổ. Hé mắt thấy mẹ đang lui cui đứng trên chiếc ghế đẩu treo bánh pháo ngoài cửa. Tôi định dậy thì đã thấy mẹ xòe diêm. Tiếng pháo ròn rã nổ váng óc. Ánh lửa lập lòe trong mắt mẹ.
Tôi quay lưng lại, trùm chăn lên đầu và ngủ tiếp. Mùng một, mẹ không nỡ mắng đâu mà lo.
Khoảng bốn giờ sáng, mẹ lay tôi: “Thắng, dậy đi cho sớm”. Tôi nhỏm dậy, giọng ngái ngủ hỏi lại: “Đi đâu hả mẹ?” Mẹ quàng cái khăn len lên đầu, thít mạnh một cái đầy vẻ cương quyết, nói: “Về đơn vị, mẹ sẽ đi cùng con”. Nói xong mẹ đứng lên, buộc túi bánh và con gà cúng lên ghi đông xe đạp. Trong lòng ấm ức vô cùng nhưng tôi không dám trái lệnh mẹ.
Đường phố Hà Nội sớm mùng một vắng tanh, phủ dày một lớp xác pháo. Thảng hoặc mới gặp một đôi trai gái đi chơi giao thừa về muộn trên chiếc xe Cub nổ pành pành. Cô gái ngồi sau thò tay vào túi áo khoác của bạn trai, ôm chặt, đầu giụi vào vai co ro vì rét. Mùi sương mai, mùi hương trầm, mùi thuốc pháo quyện vào nhau ngan ngát hăng hắc, ra mùi của Tết.
Hai mẹ con đèo nhau ra bến Nứa tìm xe khách với hy vọng mong manh. Những chiếc xe im lìm đỗ trong bóng đêm. Bến xe vắng lặng không một bóng người. Không tiếng rao đêm, không kẻ nhỡ độ đường, không cảnh chen lấn xô đẩy leo lên xe. Mẹ chạy đôn chạy đáo rút cục cũng tìm được người bảo vệ bến xe để hỏi. Kết quả như đã được đoán: không còn chuyến xe nào.
Mẹ đi ra, tóm lấy ghi đông xe từ tay tôi, lắc lắc mấy cái, rồi lại kéo lên dậm xuống như muốn kiểm tra độ chắc chắn của chiếc xe cà khổ. Mẹ nói: “Đi bằng xe đạp. Hai mẹ con mình thay nhau cho đỡ mệt”.
Nói thế nhưng mẹ lại đạp xe hướng vào thành phố. Tôi ngồi sau, hồ nghi: “Đi đâu thế mẹ?” Mẹ dứt khoát: “Lên đơn vị”. Tôi bảo: “Đây là đường về nhà”. Mẹ tôi như sực tỉnh, hấp tấp quay đầu, đổ xe. Tôi nhìn thấy ánh đèn đường phản chiếu trên gò má mẹ, trong một giọt nước đang lăn xuống.
Gió bấc lùa hơi nước từ dưới dòng sông lên lạnh buốt. Gió quất vào thành cầu ù ù. Tiếng quèn quẹt đều đặn của xích xe cọ vào gácđờxen cộng với tiếng rin rít của đôi pêđan khô dầu vang lên trong đêm tối mịt mùng nghe như tiếng ma hờn. Mẹ con tôi lùi lũi đạp xe vượt sông Hồng. Lúc này tôi mới khóc, vì giận mẹ hay thương mẹ? Có lẽ là cả hai. Sao mẹ không cho con ở lại ăn Tết rồi con sẽ đi. Con muốn ở nhà với mẹ.
Cứ kỳ cạch đạp xe như thế đến gần trưa thì tôi nghe thấy tiếng động cơ ì ì từ phía sau. Mẹ nhảy phắt xuống, đứng giữa đường quơ quơ tay chặn xe xin đi nhờ. Đó là chiếc xe Zil 130 mang biển quân sự, chở nhu yếu phẩm cho chiến sỹ trên biên giới. Tay lái xe hơn tôi vài tuổi, quân phục nhầu nhĩ, cẩu thả. Sau khi nghe mẹ tôi trình bày lý do, hắn cười ngất và đồng ý ngay tắp lự. Hắn giúp tôi treo chiếc xe đạp lên đằng sau thùng xe, buộc cố định lại. Xong hắn nháy mắt cười, châm chọc: “Ta lại lên đơn vị ăn Tết, hả?”
Đêm hôm ấy mẹ con tôi lên tới đơn vị. Mẹ giao tôi cho đại đội rồi lên tiểu đoàn thưa chuyện với chỉ huy. Sáng hôm sau mẹ nhất quyết đòi về, chả ai can được mẹ. Tôi dõi theo dáng mẹ liêu xiêu đạp xe xa dần cho đến khi mất hẳn. Đó là hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy mẹ khi còn sống.
Buổi chiều tôi nhận được lệnh tăng cường lên hang trông kho thuốc nổ.
* * *
Tắt tiếng súng, cuộc sống ở chỗ chúng tôi cũng thay đổi dần. Không còn những người bạn mới xuất hiện. Những con ma hàng xóm cũng dần dần bị đội quy tập phát hiện rồi chuyển đi. Người ta xây một cái nghĩa trang to như khu đô thị cách đây mấy chục cây số. Xương cốt nằm đâu thì nhà ở đấy, Quý thỉnh thoảng xuống chơi với anh em rồi lại về. Tôi cũng kịp hiểu một điều, trong thế giới của chúng tôi, không phải ai cũng là anh hùng, không phải ai cũng đến thế giới này bằng cái chết oanh liệt. Tuy vậy, tất cả đều được đối xử bình đẳng. Có lẽ đó là điều dễ chịu nhất mà chúng tôi có thể tự hào về thế giới của mình.
Quý về quê ăn giỗ, lên mặc bộ đồ rất lạ, trông như quần áo của chú rể nhưng mầu lòe loẹt, cổ thắt một cái nơ trông rất Tây. Nó chạy chiếc xe máy màu mận chín đỗ xịch trước cửa hang, vẫn ngồi trên xe, lấy gót chân trái gạt chân chống rất điệu nghệ, gọi toáng lên: “Thắng ơi… Thắng”.
Tôi nhìn Quý không nén được cười. Quý kéo tôi lại chiếc xe, đẩy tôi ngồi lên rồi bảo: “Chạy thử đi, tiện lắm”. Tôi bảo: “Oách nhỉ, xe này chắc đời mới. Hồi tao với mày đi lính, nhà giàu mới có cái xe tám mốt kim vàng giọt lệ”. Quý phấn khích: “Thay đổi lắm, mày không tưởng tượng được đâu. Nhà tao năm nay khấm khá hơn, các cụ mới đốt cho tao chiếc xe này”.
Nói rồi Quý thần mặt ra, nhìn tôi bối rối như lỡ lời. Giọng nó trầm hẳn xuống, gần như là thì thào: “Sao mày không về thăm nhà?” Tôi không trả lời, chui vào ngách hang nằm. Quý mang cái xe máy xuống để dưới chân núi, mặc lại bộ quần áo cũ rách te tua, rồi chui vào nằm cùng tôi. Chẳng ai nói thêm một lời nào.
Thực ra là tôi đã từng về thăm nhà. Quý đi hôm trước thì hôm sau tôi cũng về, đúng hôm giỗ mình.
Tôi về đến nhà khi ấy trời đã tối. Cái hành lang hun hút năm xưa khiến tôi bật cười, chả có con ma nào ngoài chính tôi. Mẹ không có nhà. Mâm cơm cúng tôi đã nguội ngắt. Hương cháy rụi đến chân. Đồ cúng không có tiền vàng, không có quần áo mới. Tôi đang phải mặc chiếc áo bị hơi nổ xé rách như tổ đỉa nhiều năm nay, cũng thấy chạnh lòng.
Trong góc nhà, những tuýp thuốc đánh răng và khăn mặt bông được gói thành những suất quà. Tên thuốc đánh răng lạ hoắc chứ không phải Bông Lan như thời tôi nhập ngũ. Hình ảnh của mẹ khi bắt tay trao quà lại hiện về như mới hôm qua. Cơn hờn giận trào lên, tôi không đợi mẹ nữa, phi một mạch về núi rồi nằm lì trong hang cho đến khi Quý lên.
* * *
Mẹ lên tìm tôi. Cũng đúng vào dịp Tết xong, tôi nghe oang oang có giọng người ngoài cửa hang. Cái giọng quen quen, khuôn mặt của một người đàn ông như đã gặp đâu đó mà không thể nhớ ra. Đi sau là một người phụ nữ, vất vả trèo lên những bậc đá. Mẹ, đúng là mẹ tôi. Tôi định ào ra đón mẹ, nhưng nỗi giận hờn lại dìm tôi xuống, khóa chân tay tôi cứng đờ. Tôi nép vào vách đá như chạy trốn, mặc dù tôi có đứng trước mặt thì mẹ cũng không thể nhìn thấy tôi.
Người đàn ông kéo mẹ tôi lên miệng hang, chỉ: “Đây cô ạ. Chính là ở cái hang này. Lúc chúng cháu lên, chỉ còn toàn đá vụn”.
Tôi đã nhận ra hắn là ai, chính là tay lính vận tải năm xưa. Người chết không có tuổi, nhưng người sống thì già đi theo năm tháng.
Bao nhiêu năm rồi nhỉ? Mười năm kể từ cái đận mẹ đưa tôi về đơn vị để rồi tôi chết nhạt toẹt trong cái hang này. Mười năm khiến mẹ tôi già sụp đi. Tóc mẹ bạc phân nửa. Động tác của mẹ đã chậm chạp đi rất nhiều, nhưng vẫn dứt khoát mang dáng dấp của một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết đoán.
Mẹ ngồi lặng lẽ thắp hương. Không khóc, không sì sụp khấn vái, mắt nhắm lại như thể hóa thạch. Tôi tấm tức khóc vì vẫn giận mẹ.
Một lúc thì mẹ về. Thằng Quý thấy tôi như vậy cũng không cười nói hi ha như mọi khi, nó đi ra đi vào mà chẳng biết làm gì.
Mấy hôm sau Quý bảo: “Chắc là cả kiếp ma ta ở cái hang này. Chẳng ai biết trong hang này vẫn còn xương cốt của ta. Mày cứ định như vậy mãi sao? Ra ngoài cho khuây khỏa rồi về thăm nhà đi. Lấy xe của tao mà đi cho tiện”.
Tôi nghe lời nó. Đi lại thăm bạn bè, nhưng không về thăm nhà.
Cuối năm ấy mẹ lại lên. Lần này đi rất đông, đủ cả cánh vận tải đêm xưa lên tìm xác chúng tôi, thêm một tay đại úy ở ban chính sách của tỉnh đội và một phụ nữ là nhà ngoại cảm.
Người phụ nữ nhắm mắt, lầm bầm cái gì đó trong miệng rồi bất chợt mở to đôi mắt ra. Tôi nhìn thấy mắt cô ta mầu xanh lục, sáng quắc như hai cái bóng đèn. Cơ thể của cô ta dần dần biến đổi, những mạch máu, dây thần kinh trông như búi dây điện. Nội tạng thành những bảng mạch và bóng đèn nhấp nháy. Cô ta như một cái vô tuyến, hoặc là cái điện thoại chứ không phải là con người bằng da bằng thịt.
Tôi và Quý ngồi yên một chỗ. Chưa bao giờ chúng tôi gặp một người kỳ lạ như vậy. Hình như cô ta đã nhìn thấy chúng tôi. Cô thông báo với mọi người: “Ở đây có hai vong. Trong ngách hang đằng kia”.
Mọi người nghe vậy nháo nhác.
Cô ta hỏi tôi và Quý:
- Hai vong tên gì?
Tôi bảo:
- Nguyễn Quyết Thắng – Tôi chỉ sang Quý – Còn thằng này là Nguyễn Đình Quý.
Thằng Quý mắt tròn vo, mồm dẩu ra vì ngạc nhiên, sợ rúm lại chẳng nói được câu nào.
Cô ta dịch lại lời của chúng tôi cho mọi người nghe. Mẹ tôi khuỵu xuống bất tỉnh. Tay đại úy giở sổ ra đọc gì đó, trời lạnh mà mồ hôi vã ra như tắm, gật đầu lia lịa: “Đúng rồi, đúng rồi”.
Họ bắt đầu đào bới cái ngách hang bị vùi lấp hơn chục năm. Một lúc sau thì mẹ tôi tỉnh. Mẹ gào lên: “Thắng ơi. Con ở đâu?” Tôi nói dỗi: “Con không về đâu”. Mẹ lao vào đống đá, dùng tay cào đá bật cả máu tươi. Mẹ khóc. Lần thứ hai tôi nhìn thấy nước mắt mẹ. Lần đầu lúc mẹ đánh đổ xe sớm mùng một Tết năm nào. Nhưng khóc thành tiếng thế này thì bây giờ mới thấy. Mẹ nức nở, không ngớt điệp khúc: “Con không về, mẹ chết không nhắm được mắt”. Khuôn mặt bà đau đớn, co rúm lại, toàn thân run bần bật khiến tôi thấy mình thật tàn ác.
Ánh sáng từ mắt của người phụ nữ ngoại cảm đã tắt. Búi dây điện lại trở thành mạch máu và dây thần kinh. Người ta không duy trì trạng thái này được lâu vì rất mệt. Cô ta trở về như những người bình thường và không thể nghe được chúng tôi nữa.
Mẹ ngồi bệt xuống nền đá lạnh, tựa lưng vào vách hang, đầu ngoẹo sang một bên, thẫn thờ. Tôi ngồi bên cạnh, ngả hẳn vào mẹ, luồn tay ôm lưng như thời thơ dại. Hình như mẹ cảm nhận được điều ấy, quờ quờ tay mấy lần tìm tôi. Mặt mẹ đã bớt tái, có chút sắc hồng nhưng đôi mắt vẫn buồn rười rượi, nhìn vô định xa xăm.
Đến trưa thì họ tìm thấy chúng tôi. Mẹ lại ngất khi nhìn thấy mảnh giấy có dòng chữ tôi viết tên tuổi, quê quán, đơn vị, hàn kín bằng ny lông rồi đút vào túi áo ngực trước khi lên hang. Mẹ bế từng khúc xương tôi vào lòng.
Xương cốt của Quý được tỉnh đội chuyển về nghĩa trang liệt sỹ. Nó về với anh em dưới ấy nên vui ra mặt. Quý định diện bộ quần áo chú rể cho sang, nhưng người ta lại mặc cho nó bộ quần áo khác, mầu đỏ có ngôi sao vàng ở ngực. Nó ngắm nghía bộ cánh mới và cũng thấy hài lòng.
* * *
Mẹ xin cho tôi về quê. Mẹ đã xây căn nhà ba gian trên quả đồi nhỏ, ở một vùng quê yên bình, nơi trước kia cả cha mẹ tôi từng sinh ra và lớn lên. Mẹ cũng đã tìm thấy cha và đưa ông về đây. Tôi ở gian bên trái, cha tôi ở gian bên phải. Gian giữa đóng khóa im ỉm. Trong buồng của tôi, mẹ đặt một cái bô tráng men trắng toát. Mẹ vẫn nhớ mong ước của tôi thiếu thời.
Cha không già hơn tôi là bao nhiêu. Khi ông chết cũng mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Cha nhìn tôi, vỗ vỗ lên vai bảo: “Cha rất hiểu con”. Tôi không biết cha hiểu gì. Khi còn sống, chưa bao giờ tôi được gặp cha. Như đoán được sự nghi hoặc trong ánh mắt tôi. Cha trầm ngâm, giọng buồn buồn: “Đừng giận mẹ”. Ánh mắt cha lúc này khác hẳn, nồng ấm yêu thương chứ không hờ hững như trên bức ảnh năm xưa.
Hai cha con nằm ngắm bầu trời dày đặc sao. Có những ngôi sao sáng quắc, có những ngôi sao lập lòe như sắp tắt, còn cả những ngôi sao đã tắt mà mắt ma không nhìn thấy, như thể chúng cũng là những thân phận ở một thế giới khác nữa.
Một thời gian sau thì mẹ tôi mất. Tôi không bao giờ biết chính xác lý do gì khiến mẹ chết. Đó là bí mật của riêng mẹ. Cha con tôi đón mẹ về căn buồng giữa.
Mẹ vồ lấy tôi. Chỉ khóc.
Hôm ấy cũng là mười bốn tháng giêng, trời lạnh căm căm và mưa phùn ẩm ướt.