Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Hoa muộn trên đồi cát (Gio Mỹ, Gio Linh, Quảng Trị)

NVM BLOG - Ngày mai, tuy vô cùng bận rộn nhưng tôi sẽ trở lại mảnh đất trong bài viết dưới đây - bài viết được thực hiện cách đây gần 3 năm.
Lần này, sự khác biệt là đi cùng sẽ có một nhà ngoại cảm trẻ.
Trên chuyến đi này, còn có một vị Anh hùng với câu nói hơi "lôm côm" nhưng cũng rất "bất hủ" khi được hỏi "Anh hùng là gì", anh ấy đã không ngần ngại trả lời: "Có nhiều cách định nghĩa nhưng tôi thì nghĩ "anh hùng là éo biết sợ thèng nào"...
Trên chuyến đi đầy ý nghĩa tâm linh này, tôi hi vọng có một phép màu cho câu chuyện mà chúng tôi đang theo đuổi ở cực Tây Quảng Trị. Sự hi sinh trên cát bỏng sẽ không uổng phí nếu cái ác sẽ bị đẩy lùi phải không NCC LTT?
......
Hoa muộn trên đồi cát
 Đó là Câu chuyện về những người lính, hai nghĩa cử cao đẹp và một quả đồi mang tên cao điểm 21 Đồi Cát giữa vùng đất Gio Linh cát trắng từng nhuộm máu đào.
Mảnh đất Quảng Trị này còn hằn in ký ức bỏng rát như nắng miền Trung, nơi còn nặng trĩu nỗi đau như vệt xích xe tăng xéo giày lên những lồng ngực trai tráng tuổi 20 năm ấy...

Trận đánh bi hùng

Hà Nội, những ngày giáp Tết Tân Mão. Một vị tướng già, mái đầu bạc trắng gõ cửa phòng làm việc của Đại tá, Anh hùng Lao động Nguyễn Đăng Giáp - Tổng giám đốc Tổng công ty 36 (Bộ Quốc phòng). Ông là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh - Nguyên Chính  ủy Trung đoàn 270 bảo vệ giới tuyến quân sự năm xưa. Vị tướng già cho hay, ông có người cháu đang làm việc tại Tổng công ty 36 và với một phong cách rất nhà binh, ông thẳng thắn:

- Tôi đến để đề nghị xin các anh giúp đỡ... 100 triệu đồng, cho các đồng đội của tôi!

- Vâng! Đồng đội của bác ở đâu, cần việc gì ạ?

- Họ ở Quảng Trị, trên một đồi cát trắng...

Đồi cát trắng qua lời kể của vị tướng dẫn ông Giáp đến với câu chuyện một người lính tên là Hoàng Ngọc Bích - Nguyên giảng viên Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội.
Một chiều mùa hè năm 1993, ông Bích dẫn bốn người đồng đội xuôi tàu tìm về Đồi Cát, ở cạnh làng An Mỹ, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau mấy chục năm im tiếng súng, những cây bạch đàn, cây keo đã lên xanh lác đác, xóa dần đi màu trắng bất tận của một thời chiến tranh. 

Lội bộ qua con đường đất nhỏ bé, khi nhìn thấy màu trắng nhức mắt của quả đồi, ông Bích bỗng thấy tim mình nghẹn lại. Ký ức trở về bỏng rát như miền cát trắng bất tận dưới chân ông...

Những ngày mùa thu ở Gio Mỹ hồi ấy nóng rực. Ta và địch giằng co từng cao điểm ở khu vực Gio Linh - Cửa Việt. Bích lúc này mới nhập ngũ vào Trung đội 6, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270 bảo vệ khu giới tuyến. Cuối tháng 10-1968, đơn vị Bích chốt giữ điểm cao 21 Đồi Cát, cách điểm cao 31 nơi quân địch chiếm đóng chỉ 900m, hai đồi cát có thể nhìn thấy nhau. 

Bị thiệt hại nặng nề, địch như con thú điên, liên tục dùng chiến thuật “thiết xa vận” càn quét ta. Trong ngày và đêm 15/10/1968, hai đại đội ngụy tấn công sang điểm cao 21 nhưng đã bị trung đội 4 bẻ gẫy, tiêu diệt 65 tên, buộc chúng phải lùi về phía sau. 

Đêm ấy, Trung đội 6 tiến vào thay thế Trung đội 4 giữ cao điểm. Sáng 16-10, trận địa sau cả ngày quần nhau với địch yên ắng ghê người. 8 giờ sáng, pháo bầy của địch ầm ầm giội vào trận địa.

Pháo vừa dứt, có tới 10 xe thiết giáp lồng lộn kéo theo cả tiểu đoàn địch điên cuồng lao về trận địa ta. Lính Trung đội 6 như những thiên thần xung trận, bất ngờ lao lên từ các hầm cát, bắn B41, quăng thủ pháo, điểm xạ AK, bình tĩnh giáng trả chúng. Năm xe tăng của địch bốc cháy, hàng chục tên bị tiêu diệt.

Trận đánh dai dẳng đến 14 giờ thì tiếng súng ta thưa dần. Đạn dược của ta đã cạn. Xe tăng, bộ binh địch vẫn tràn lên. Không còn súng thì dùng lê, dao găm! Chiến sĩ ta xông tới đánh giáp lá cà. Nhưng 33 chiến sĩ là quá mỏng, các anh hi sinh, xe tăng địch quần nát toàn bộ công sự...

Sau 43 năm, ngồi kể lại với chúng tôi, ông Nguyễn Xuân Dòng, chiến sĩ liên lạc Tiểu đoàn 4 không nén nổi những dòng lệ tuôn trào: “Trận địa khét lẹt mùi thuốc súng, ngổn ngang vết xe tăng giày xéo. Có nhiều vệt máu đỏ lịm cát trắng nhưng không sao tìm thấy một thi thể nào.

Có lẽ chúng đã hất hết anh em xuống hầm rồi cho xe tăng ủi đi. Chúng tôi tìm mãi mới thấy một cái đầu nhô lên từ cát. Bới mãi thì ra đó là anh Bích. Anh còn thoi thóp thở, người không còn mảnh vải che thân. Khi chúng tôi đổ nước cho anh, anh dần tỉnh, mở mắt. Câu đầu tiên, anh nói như trong mê sảng: “Thủ pháo! Thủ pháo đâu? Đưa thủ pháo cho tao diệt xe tăng”. 

Nhờ những thanh gỗ trong hầm chữ A, nên dù bị xe tăng đè nghiến, anh Bích là người duy nhất trong trung đội thoát chết. Sốc, đớn đau, câm lặng. Rồi anh dần vượt qua, để tiếp tục cầm súng. Hòa bình, anh trở về giảng đường đại học, trở thành giảng viên. Mỗi buổi sáng lên lớp, ánh mắt học trò lại vẫn như gợi nhớ ánh mắt đồng đội một thời trẻ trung, khát vọng...

Cuộc sống đời thường nặng nợ áo cơm nhưng Bích bàn với vợ rằng, anh sẽ lập thêm một bàn thờ để thờ 32 đồng đội, ngay trong ngôi nhà tập thể ọp ẹp của mình. Bận với công việc ở trường đại học nhưng rảnh lúc nào, có manh mối thông tin nào là anh Bích lại lao đi tìm đồng đội. Mãi đến năm 1989, anh mới tìm được gần 10 đồng đội bạn chiến đấu sau này.

Gặp nhau trong mừng tủi, họ cùng đề ra một quy ước: Lấy ngày 16-10 hằng năm làm ngày giỗ của Trung đội 6. Mỗi năm sẽ luân phiên tổ chức giỗ ở nhà một người. Làm được ba năm thì thấy anh em đi lại khó khăn, nhiều người điều kiện còn thiếu thốn, Bích lại đề xuất: “Thôi từ nay, ngày giỗ anh em, tôi đứng ra tổ chức, anh em cứ về Hà Nội, họp mặt, ăn giỗ ở nhà tôi”. 

Năm 1993, họ quyết định lên đường vào chiến trường xưa để tìm hài cốt đồng đội... Tuy nhiên, cuộc đào tìm mấy ngày trên Đồi Cát không mang lại kết quả gì. Cả nhóm chỉ biết thắp hương, vái lạy đồng đội và trở về trong niềm day dứt khôn nguôi.

Đứng giữa biển cát mênh mông và bỏng rát ấy, anh Bích nghẹn ngào: “Tháng năm chẳng phải sinh cùng/ Xót thương đồng đội giỗ chung một ngày/ Kẻ Nghệ - Tĩnh, đứa Hà Tây…/ Tuổi còn trẻ lắm chưa đầy hai mươi/ Thế mà mấy chục năm rồi/ Đâu xương thịt bạn khắp đồi không tên/ Dương cằn cỏ dại mọc lên/ Vẫn còn nguyên đó chiến công một thời/ Giờ đây còn lại mình tôi/ Thắp hương cúi lạy trước đồi cát bay...”.

Những người lính bảo nhau, thôi thì ráng dựng một tấm bia cho anh em có nơi hương khói. Nhưng họ đều nghèo, đã có ý kiến nêu, hay cứ dựng tạm một tấm bia nhỏ, nhỏ thôi cũng được, còn hơn không? Họ phát động nhau quyên góp... 





Máu và hoa

Vị tướng già nhiều đêm không ngủ, ông hiểu mình phải có trọng trách giúp anh em. Đó là lý do ông tìm đến gặp Đại tá, Anh hùng Lao động Nguyễn Đăng Giáp, một người mà như cháu ông nói đã từng coi câu thơ: “Phải bao máu thấm trong lòng đất/ Mới ánh hồng lên sắc tự hào” như một lẽ sống!

Câu chuyện khiến anh Giáp lặng đi, xúc động. Gia đình anh có 8 anh em trai thì cả tám là bộ đội, một người em trai của anh là liệt sĩ. Anh từng cùng cha mình lặn lội vào chiến trường xưa, bốc hài cốt cho em, anh hiểu nỗi đau mất mát. Nhưng điều khiến anh khâm phục nhất chính là nghĩa cử của anh Bích. Chỉ riêng việc anh lập bàn thờ đồng đội, làm giỗ đồng đội tại nhà, bao năm lặn lội đi tìm đồng đội, đã là những hành động rất anh hùng rồi!

Hiếm có cuộc gặp gỡ nào lạ kỳ như vậy. Vị tướng yêu cầu sự ủng hộ cần khoảng 100 triệu đồng trong tổng khoảng kinh phí 300 triệu để dựng một tấm bia nhưng anh Giáp nói giúp... toàn bộ.

Anh Bích, khi nhận được tin này, ngỡ ngàng đến mức khó tin. Anh tìm gặp anh Giáp, bật khóc. Anh Giáp ân cần hỏi kỹ hơn về Đồi Cát rồi lại một lần lặng đi trước thông tin: Cho đến lúc ấy, vẫn chưa có liệt sĩ nào được tìm thấy hài cốt.

Anh thầm nghĩ: “Nếu chỉ làm một cái bia thì đơn giản quá. Cần phải xây nơi đây một đài tưởng niệm, một nơi thờ tự, ngôi nhà chung của các liệt sĩ, một “nghĩa trang giữa chiến trường. Chúng ta đã dựng nhiều bia chiến công nơi những trận thắng vang dội nhưng cũng cần có những tấm bia ghi công những người ngã xuống ở cả những trận tổn thất lớn lao”.

“Thôi, có lẽ chúng ta phải làm chu đáo hơn, quy mô lớn hơn, chúng tôi không “giúp” nữa mà sẽ bàn với anh em, coi đây là việc của mình, sẽ là “chủ đầu tư” lo từ A đến Z” - anh quả quyết.

Nhưng làm việc tốt nhiều khi cũng không dễ. Khi anh Giáp bàn bạc với lãnh đạo đơn vị, dự trù kinh phí lên tới tiền tỷ, có ý kiến phản ánh: “Có nên làm không, khi đây đó người ta từng phản ứng việc năm ngoái Tổng công ty bỏ ra hàng tỷ đồng cho các hoạt động xã hội từ thiện là để “đánh bóng thương hiệu”.

Đó là chưa kể giữa lúc kinh tế khó khăn, Nghị quyết 11 của Chính phủ yêu cầu thắt chặt đầu tư công và tín dụng. “Khó thì đưa ra tập thể để bàn, nhưng cá nhân tôi xin xung phong ủng hộ 100 triệu đồng”, anh Giáp nói.

Cuộc phát động lấy ý kiến tập thể đã mang lại hiệu quả bất ngờ: Các đơn vị thành viên và mọi người đều ủng hộ, số tiền thu được lên tới 1,3 tỷ đồng. Ông Nguyễn Đăng Hiền - Giám đốc Công ty máy phát điện Trường Lộc, em trai anh Giáp nghe tin cũng xin được góp sức 100 triệu đồng.

Vốn là lính công trình thiện xạ, họ triển khai mọi thứ chóng vánh, hiệu quả. Chỉ phần bia đá, chạm khắc tượng đài đá mới phải thuê doanh nghiệp Xuân Đoàn ở Hoa Lư, Ninh Bình. Dưới cái nắng hè miền Trung như rang, nhìn bộ đội 36 vẫn miệt mài làm việc cho kịp tiến độ, về đích trước rằm tháng bảy âm lịch “xá tội vong nhân”, anh Thành, chủ doanh nghiệp Xuân Đoàn rất cảm động. Anh cũng xin ủng hộ bảy triệu đồng.

Đồi Cát với những đụn cát trắng nhức mắt hôm nào giờ đã mọc lên Đài tưởng niệm cao 6m, ba tầng mái bằng đá trang nghiêm, có lư hương, sập thờ, bia ghi danh và tóm tắt trận đánh bi hùng.

Khuôn viên hơn 1000m2 được trồng nhiều cây xanh, tổng vốn đầu tư 2,2 tỷ đồng. Sáng 9-8-2011, đất trời Gio Linh sau mấy ngày mưa u ám bỗng nắng bừng lên rực rỡ như chào đón lễ khánh thành nhà bia. Bà con xã Gio Mỹ kéo về chật kín. Thân nhân của 32 liệt sĩ cũng trở về đầy đủ. Tổng công ty 36 chu đáo tặng sổ tiết kiệm cho 32 gia đình liệt sĩ, 10 gia đình chính sách của địa phương.

Có lẽ đây là lần đầu tiên có một nghĩa trang dựng lên giữa chiến trường, lại do chính một đơn vị quân đội kêu gọi cán bộ, công nhân viên quyên góp thực hiện, rồi đứng ra làm chủ đầu tư công trình. Những người lính 36 còn chu đáo đến mức làm thêm một sổ tiết kiệm 17 triệu đồng bàn giao cho địa phương lấy quỹ lo hương khói cho các liệt sĩ...

Thời gian, gió cát tưởng như xoá nhoà tất cả nhưng hôm nay, khi Đài tưởng niệm hoàn thành, khi khúc quân hành hùng tráng, khi bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” cất lên, ký ức hào hùng và lòng tự hào truyền thống bỗng như trở về đầy ắp trong mỗi người.

Đại tá, Anh hùng, con người nổi tiếng cứng rắn, bạch thoại mắt bỗng nhoè lệ. Ngồi bên anh, hơn 10 vị tướng, những mái đầu bạc phơ từng một thưở chiến trường lửa bỏng: Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, Trung tướng Lê Văn Hân, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, Trung tướng Phạm Hồng Thanh... đều rưng rưng nước mắt.

Có lẽ là “nước mắt của ngày gặp mặt”, ngày họ đón đồng đội trở về. Trong dòng người đang đội nắng đổ về thắp hương, có những em đen đúa, gầy gò; có cả những gia đình có đủ ba thế hệ ông bà, con, cháu lần đầu về thăm trận địa và cũng là nơi yên nghỉ của các liệt sĩ.

Trong dòng người ấy, tôi để ý có một cô gái trẻ, xinh đẹp lặng lẽ mang tới những đóa hoa hồng đặt lên tượng đài. Em là Nguyễn Thị Huyền, 22 tuổi, sinh viên năm thứ 3 khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế, quê ở làng An Mỹ.

Cô bé cho hay: Ngày còn nhỏ, em đã biết Đồi Cát này có nhiều liệt sĩ hy sinh nhưng hoang vắng quá, bọn trẻ con như em ít dám qua lại. Bây giờ đài liệt sĩ đã xây, bia đã dựng, đọc những dòng chữ trên bia, em mới hiểu và bỗng thấy quả đồi anh hùng của quê hương gần gũi biết chừng nào. Từ niềm cảm phục ấy, Huyền đã quyết định thay đề tài khóa luận tốt nghiệp đã chọn trước đây bằng việc nghiên cứu chính về trận đánh bi tráng trên Đồi Cát.

Những đóa hồng dân dã hái từ vườn nhà trên tay người thiếu nữ hòa cùng rất nhiều vòng hoa, hương, nến, nhòa trong ánh nắng miền Trung rực rỡ. Bất giác, tôi chợt nhớ câu thơ Nguyễn Đức Mậu: “Đất Hùng nằm, bom đạn đào trơ/ Ngày hoa nở, đêm ngời sao tỏ”.

Câu thơ ấy sao mà giống câu chuyện hôm nay, quả đồi cát trắng bom đạn đào trơ giờ đã nở hoa, “màu hoa đỏ” nở muộn trên cát trắng. Đúng như tâm sự của Đại tá, Anh hùng Lao động Nguyễn Đăng Giáp: “Có thể chúng ta đặt hoa trên Đồi Cát hơi muộn nhưng tình yêu Tổ quốc, tình cảm tri ân thì không bao giờ muộn, nó luôn là đóa hoa đẹp nhất!”.
 NGUYÊN MINH - 4-2011