Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Về miền đất sống bên... "thần Chết" (bài 1)


Về miền đất sống bên... "thần Chết" (bài 1)
QĐND - Thứ Hai, 19/04/2010, 11:27 (GMT+7)
Bài 1: Bản đồ màu máu
Đã có nhiều ví von về Quảng Trị như “đất lửa”, “đất thép” nhưng tôi gọi nơi này là “miền đất sống bên… “thần Chết” vì Quảng Trị có nhiều bom mìn còn sót sau chiến tranh nhất thế giới. Cứ 5 người dân Quảng Trị thì có một người bị thương vong do bom mìn…
Chúng tôi trở lại Quảng Trị để gặp những nhân chứng tai nạn bom mìn, chuẩn bị cho cuộc giao lưu “Khắc phục hậu quả bom mìn vì bình yên cuộc sống” do Báo Quân đội nhân dân, Binh chủng Công binh, Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC phối hợp thực hiện. Trước lúc lên đường, Đại tá Nguyễn Trọng Cảnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn (Bộ Tư lệnh Công binh) tặng tôi cuốn tài liệu báo cáo kết quả dự án điều tra tình trạng bom mìn còn sót sau chiến tranh trên địa bàn 6 tỉnh miền Trung, vừa được Trung tâm phối hợp với Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam hoàn thành cuối năm 2009. Trang bìa cuốn tài liệu in sắc nét bản đồ ô nhiễm bom mìn của 6 tỉnh miền Trung. Chỗ nào có ô nhiễm được đánh dấu màu đỏ. Sáu tỉnh, gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, tỉnh nào cũng có màu đỏ biểu hiện sự ô nhiễm. Nhưng riêng có một góc bản đồ, màu đỏ bất chợt dày lên, đậm đặc, kín nhòa chứ không “lỗ chỗ” như các tỉnh khác. Chỉ tay vào khu vực bản đồ đỏ như máu ấy, anh Cảnh chậm rãi:
 - Đó là Quảng Trị!
Một mét vuông, 63kg bom đạn
Bản đồ ô nhiễm bom mìn 6 tỉnh miền Trung do các cựu chiến binh Mỹ và Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn lập cuối năm 2009. Ảnh: TL
Đường 9, con đường máu lửa huyền thoại hôm nào nay xanh ngắt màu cà phê, hồ tiêu hai ven đường. Dòng Đăk Rông êm ả uốn mình soi bóng những chú trâu bụng no tròn nhởn nha gặm cỏ. Khung cảnh yên bình tới mức tôi chợt thầm nghĩ, chiến tranh đã đi qua 35 năm rồi, e đi tìm dấu đạn bom là hơi khó! Nhưng Trung tá Lê Mạnh Hùng, Trưởng ban Công binh Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị cho hay, từ thành phố Đông Hà tới các huyện xa như Cam Lộ, Hướng Hóa, từ thị xã, thị trấn tới các làng bản heo hút, để dò tìm ra bom mìn còn dễ hơn cả săn bắn thú rừng. Thiếu tá Phùng Mạnh Lý, Đội trưởng Đội rà phá bom mìn của Bộ CHQS tỉnh vừa từ hiện trường về, mở cho tôi xem cuốn sổ tay ghi số bom mìn tìm thấy mỗi ngày, mỗi tuần. Tuần nào ít nhất cũng 180 quả đạn, bom. Tuần đầu sau nghỉ Tết, anh em làm tích cực, số bom, đạn, vật nổ tìm thấy vọt lên hơn 300...
Những con số khủng khiếp về bom mìn còn sót sau chiến tranh đã được chính phía Mỹ thừa nhận. Trong khuôn khổ dự án khảo sát về bom mìn 6 tỉnh miền Trung, các cựu chiến binh Mỹ đã được Bộ Quốc phòng Mỹ cung cấp dữ liệu các trận đánh phá của không quân, hải quân Mỹ cho thấy, trong 6 tỉnh thì Quảng Trị là tỉnh phải gánh chịu nhiều nhất với hơn 1,7 triệu trên tổng số 4,4 triệu đơn vị bom, mìn, đạn giội xuống 6 tỉnh, chiếm 40,3%, trong đó 50% là bom phá, số chưa nổ 5-10%. Trong số hơn 460.000 héc-ta đất được điều tra, có tới hơn 83,8% bị ô nhiễm bom mìn, nhiều nhất phải kể đến các huyện Đăk Rông, Hải Lăng, Gio Linh, Hướng Hóa, Triệu Phong… Theo dữ liệu ném bom của Bộ Quốc phòng Mỹ, mỗi mét vuông đất ở Quảng Trị phải hứng chịu 63kg bom đạn chỉ riêng do không quân và hải quân Hoa Kỳ bắn phá!
Máu vẫn rơi trên gốc cà phê
35 năm sau chiến tranh, ở tỉnh nhiều bom mìn số một Việt Nam này, cũng mới chỉ có chừng 5% diện tích đất ô nhiễm bom mìn được tháo gỡ. Thật oái oăm, đất có bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại phần lớn đều là đất canh tác, sản xuất với 75% là đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp. Phải “sống chung với bom mìn”, rất nhiều cảnh thương vong đau đớn, bất ngờ đã xảy ra với người dân vô tội…
Bản Trằm, xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa nằm cách đường vào sân bay Tà Cơn năm xưa không xa. Đó là một bản Vân Kiều nhà sàn san sát, những khu vườn dày đặc cây cà phê. Buổi sáng 7-2-2010 (25 Tết), bốn anh em Hồ Văn Trung, Hồ Văn Mường, Hồ Khăm Đi, Hồ Văn Vân rủ nhau ra vườn làm cỏ cà phê cho xong việc mà an tâm ăn Tết. Vừa cuốc đất, làm cỏ, họ vừa sôi nổi bàn tán, cười đùa xem mua gì, ăn gì khi Tết này cà phê vừa trúng giá. Bỗng “uỳnh”, một tiếng nổ dữ dội vang lên khi Trung vung nhát cuốc. Cả bốn ngã vật ra, mặt mày xám ngoét vì thuốc nổ. Trung bị mất 2 ngón tay, 2 bên chân, đùi đều bị thương nặng. Ba người còn lại đứng xa hơn nhưng người bị sức ép, người bị thương vào chân, vào tay, mảnh đầu đạn găm vào người lăn lộn rên la dữ dội…
Tỷ lệ nguyên nhân người chết do bom mìn ở Quảng Trị.
Hôm chúng tôi đến, cả bốn người vừa mới ra viện được mấy ngày, sau gần hai tháng trời điều trị, vừa mất Tết, vừa phải tốn tiền điều trị lên tới hàng chục triệu đồng. Ánh mắt chưa hết thảng thốt, Trung nhìn qua ô cửa sổ nhà sàn chiều muộn tối sẫm, chỉ cho tôi ngôi nhà nhỏ nằm ngay phía trước, nhà anh Hồ Ngọc Quang, nơi cách đây vừa 5 tháng, cũng một vụ nổ đầu đạn đã cướp đi đứa con trai duy nhất mới tròn 4 tuổi của anh. Người Vân Kiều không có phong tục thắp hương cho người chết tại nhà nếu không phải ngày giỗ nên nhắc đến đứa con bé bỏng xấu số, anh Quang vào nhà lấy khung ảnh con ra, lặng lẽ ngồi ngắm hình con như quên rằng có chúng tôi bên cạnh. Nước mắt anh trào ra. Hồi lâu anh mới nói lên lời: “Chuyện con tôi chết khó tin quá! Hôm ấy là ngày 2-10-2009, con tôi chạy sang nhà chị Nhung, chị dâu tôi, xem bác nấu cơm. Chị mới sinh con hơn một năm, để cháu bé trên võng gần đó. Một tiếng nổ dữ dội vang lên hất tung cả xoong nồi, làm thủng trần căn bếp. Tôi đang làm cỏ cà phê chạy sang, thấy chị Nhung ngã vật bên bếp, máu đầm đìa khắp người. Cháu bé trên võng bị sức ép lăn lộn kêu la dữ dội. Riêng cháu Quân nhà tôi tắt thở tại chỗ vì sức ép quả đạn và mảnh đạn. Chị Nhung và cháu nhỏ bị thương, phải vào nằm viện mấy tháng”. Trung tá Lê Mạnh Hùng giải thích: Đó là một đầu đạn bắn ra găm sâu trong gốc cây nhiều năm. Người dân chặt cây về làm củi, đến khi đun thì đầu đạn phát nổ. Ở Quảng Trị, hiểm họa bom mìn có thể xảy ra ở bất cứ đâu, kể cả những nơi tưởng như an toàn nhất…
Cũng vào dịp Tết Nguyên Đán, anh Hồ Văn Nguyên ở thôn Mai Lãnh, xã Mò Ó, huyện Đak Rông đã thiệt mạng khi anh đang phát cỏ trong vườn chuối thì đụng bom bi. Anh chết vô cùng đau đớn, mặt mũi, người anh đen bầm vì thuốc nổ, bi găm khắp người, hai bàn tay bị phạt đứt, mắt bị phá hủy nặng và người đầy vết thủng từ ngực lên đến mặt. Hôm ấy đã là trưa 29 Tết, anh Nguyên vẫn vác rựa lên rẫy làm việc. Nhà quá nghèo, lại đông con, anh làm việc như “một người nghèo không biết Tết”, mọi thu nhập chỉ trông vào nương chuối. Anh cũng như hơn một nửa dân số trong số 1.800 người Vân Kiều sống ở thị trấn Krông Klang bao năm nay vẫn làm ăn yên bình ở những nương rẫy này, thu nhập chính dựa vào chuối, sắn và ngô. Anh Nguyên chết, để lại 6 đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới 3 tuổi và người vợ ốm yếu, tương lai mờ mịt khi mất đi trụ cột lao động trong gia đình. Chị Lê Thị Lâm Hoa, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Đak Rông cho biết, khu vực xảy ra tai nạn đã được khai hoang từ năm 1982 để tái định cư cho những gia đình dân tộc ít người phải tản cư vì chiến tranh. Một vụ tai nạn năm 1985 đã từng giết chết 2 người ở đây. Còn ông Hồ Văn Mông, bố anh Nguyên thì nấc nghẹn kể, ông từng chứng kiến một lượng “bom quả ổi” (cách gọi bom bi của người địa phương) rất lớn rải xuống đây thời chiến nhưng cứ nghĩ mấy chục năm rồi, bom không nổ nữa… Bom bi hiện đã bị quốc tế cấm sử dụng trong chiến tranh nhưng ở Quảng Trị, hầu như không tuần nào không có người bị thương vong vì nó. Chúng tôi trở lại Mai Lãnh, ngay cạnh quả đồi anh Nguyên chết hôm nào, trẻ chăn trâu tung tăng đùa nghịch. Bình yên thế mà tôi cứ rờn rợn người khi nghĩ đến con số, 97% diện tích huyện Đak Rông ô nhiễm bom mìn, tỷ lệ cao nhất nước!
Chỉ một cái Tết mà đã có biết bao vụ nổ tang thương vì đạn bom sau chiến tranh! Không thể kể hết những vụ như thế ở Quảng Trị khi mà từ năm 1975 đến nay, đã có tới hơn 7.000 người bị thương vong do bom mìn còn sót lại, gần một nửa trong số đó bị chết. Có ba nguyên nhân chính gây tai nạn, trong đó, thu nhặt kim loại phế liệu chiếm 34%, canh tác và chăn thả chiếm 27%, đùa nghịch với vật liệu nổ chiếm 21%. Trong số nạn nhân, có rất nhiều bé trai dưới 14 tuổi và có tới 47% rơi vào đồng bào miền núi giáp biên giới phía Tây Quảng Trị, phần nhiều là đồng bào dân tộc thiểu số.
Tháng Ba, cỏ cây Quảng Trị cứ ngời ngợi xanh dọc mỗi nẻo đường tôi qua. Anh bạn đi cùng nói rằng, cây xanh hơn vì mỗi tấc đất Quảng Trị đã thấm quá nhiều máu. Có tình cờ không khi các cựu chiến binh Mỹ lúc lập bản đồ ô nhiễm bom mìn cũng chọn màu đỏ-màu máu làm ký hiệu đánh dấu nơi ẩn náu của bom mìn? Đến Quảng Trị, lại một lần thấy được bộ mặt gớm ghiếc phi nhân tính của chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra, khi mà giờ đây, những vùng nhiều người chết vì đạn bom còn sót lại đều rơi vào những vùng có cách gọi mĩ miều là… khu “phi quân sự” năm xưa. Đến Quảng Trị, bất chợt tôi nhớ đến câu ví von của một nhà xã hội học Mỹ: “Nếu bạn sinh ở Thụy Điển vào thế kỷ 20, 21 thì coi như đã “trúng số” vì cuộc sống quá đủ đầy, yên bình, nhiều phúc lợi”. Với cách nói ấy thì có thể ví von thế nào cho những người sinh ra ở Quảng Trị trong thế kỷ 21 này?
Bình quân mỗi mét vuông đất Quảng Trị có 63kg bom đạn của Mỹ. Hiện nay, 83,8% diện tích đất Quảng Trị bị ô nhiễm bom mìn. Từ năm 1975 đến nay, tỉnh này có hơn 7.000 người thương vong do bom mìn, trong đó có hơn 2.500 người chết. Bình quân cứ 5 người dân, có một người bị thương vong do bom mìn. Tỷ lệ này ở mức cao nhất thế giới...
“Gần như không tuần nào, trên đất nước Việt Nam không có người bị thương vong vì vướng phải bom mìn của Mỹ còn sót lại”.
(Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Đoàn cựu chiến binh Mỹ ngày 6-4-2010)
Ghi chép của NGUYỄN VĂN MINH
Bài 2: Không dễ giã từ “nghề bán bom”
Bài 2: Không dễ giã từ “nghề bán bom”
Ở Quảng Trị, chiến tranh không chỉ để lại đạn bom, chết chóc mà còn để lại sự nghèo đói. Sự nghèo đói đã sinh thêm một nghề nguy hiểm: Nghề thu gom phế liệu chiến tranh…
Mua sắt vụn, mua cả bom!
Lật giở số liệu điều tra của Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn (Bomicen) mà không khỏi nhói lòng: Ở Quảng Trị, 98% số xã từng có “phong trào” rà phá phế liệu chiến tranh, đứng đầu trong 6 tỉnh miền Trung được khảo sát. Trong số hơn 7.000 người thương vong do bom mìn sau chiến tranh, có tới 34% do rà phế liệu. Những con số đó thôi thúc tôi đi tìm những đại lý phế liệu chiến tranh…
Đến thị trấn Hướng Hoá, tôi may mắn được một người bạn là cán bộ địa phương “bật mí”: Các đại lý giờ còn ít lắm, nhưng gần đây vẫn còn một cái từng là đại lý phế liệu chiến tranh lớn nhất vùng! Đó là cửa hàng của ông Nguyễn Phúc ở thôn Quyết Tâm, xã Tân Hợp.
Những vỏ bom tại đại lý phế liệu chiến tranh của ông Phúc.
Dù chiều đã muộn, tôi lập tức lên đường. Từ thị trấn Hướng Hoá, chạy ra đường Hồ Chí Minh, qua khu phố mới đang mọc lên khang trang, tôi thấy một ngôi nhà nhỏ nằm khuất mình giữa hai đống sắt vụn to đùng chắn hai bên, chỉ chừa lối vào. Đó chính là đại lý của ông Phúc với cái biển đề “thu mua sắt vụn”. Ông Phúc đi vắng, chỉ có người con trai tên Phương luôn miệng nói: “Không biết đâu, hỏi ông già!” tiếp chúng tôi. Phương hồn nhiên dẫn chúng tôi đi khoe những vỏ bom, vỏ đạn nằm la liệt. Phần nhiều là những quả bom cỡ 500 bảng đến hàng nghìn bảng Anh đã được tháo ngòi nổ, xếp chồng lên nhau. Có nhiều quả đã được cưa ra lấy thuốc nổ, bổ đôi thành hai mảnh nằm lăn lóc. Anh bạn đi cùng bạo dạn nhảy lên đống sắt vụn, đi sâu vào trong. Một lát sau, anh chạy ra reo lên:
- Có “hàng độc” đây!
Trên tay anh, hai quả đạn cối đã han gỉ kèm theo một quả lựu đạn. Tôi cầm lên, thấy nó còn nặng trịch, chẳng rõ bên trong còn thuốc nổ và ngòi nổ hay không, đành bảo bạn cất ngay đi “cho lành”.
Chỉ cho tôi một quả bom nằm lăn lóc cạnh sân nhà, Phương khoe: “Mua không? Quả này một tạ hai, giá sắt vụn sáu ngàn một cân, có hơn sáu trăm ngàn à”?
Tôi nhẩm tính, một quả bom tìm thấy, mà mới là loại bom “thường thường bậc trung” chỉ riêng tiền sắt vụn đã 600-700 nghìn đồng, thảo nào người dân ham nghề thu gom phế liệu? Anh Hà Ngọc Giao, Phó bí thư huyện đoàn huyện Hướng Hoá cho biết: “Ngày trước, ở Tân Hợp có tới dăm bảy đại lý, giờ chỉ còn ông Phúc, nhưng ông làm ăn cũng lay lắt vì chẳng còn nhiều người dân thu gom phế liệu từ bom đạn như trước…”. Nói vậy, nhưng sơ sơ đếm tại đại lý ông Phúc, chúng tôi thấy có tới hàng trăm vỏ bom tấn và nhiều vỏ đạn, đầu đạn pháo khác nhau cũng như nhiều loại mũ sắt, thiết bị chiến tranh khác. Vậy mà, trong nhà ông, chúng tôi vẫn thấy treo bảng cam kết “tuyệt đối không mua bán, tàng trữ, vận chuyển các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ…”!? Có cầu thì vẫn có cung, ở Quảng Trị, không biết còn bao nhiêu cửa hàng thu gom sắt vụn vẫn thu gom cả bom như của ông Phúc? Cửa hàng ông Phúc ở vào giai đoạn hấp hối của nghề buôn bán phế liệu chiến tranh mà vẫn còn nhiều loại bom đạn được tập kết về như thế, không hiểu thời hoàng kim của nó, mức độ còn kinh khủng đến đâu?
Những mảnh đời “kền kền chiến tranh”?
Ngược dòng lịch sử để thấy được nguồn gốc chuyện buôn bán phế liệu. Nhà sử học kinh tế Đặng Phong, tác giả cuốn sách “21 năm viện trợ kinh tế Mỹ ở Việt Nam” viết: “Nhiều sĩ quan ngụy thú nhận rằng có khi chỉ vì cần tiêu một món tiền nào đó, chẳng hạn tậu một chiếc xe hơi kiểu mới, mà hắn hạ lệnh báo động và cho bắn như mưa vào vùng giải phóng. Sau đó, người ta thấy có những xe tải đến “dọn dẹp” đi mấy chục vạn vỏ đạn “phế thải”.
Đó là chuyện buôn bán phế liệu thời chiến, còn thời bình, bom, đạn bị cấm mua bán, người dân chỉ còn có thể lén lút khai thác trong lòng đất với đầy rẫy hiểm họa nhưng con số hơn 7.000 người chết và bị thương trong vòng 35 năm qua chưa phải là lời cảnh báo đủ cho những người dân giã từ kiếp “kền kền chiến tranh”. Xã Hải Thái (Gio Linh, Quảng Trị) hiện nổi tiếng là “xã đại học” với nhiều con em ăn học thành tài. Vậy mà cách đây ít lâu, các cựu chiến binh Mỹ về thăm xã, chiến trường năm xưa, không khỏi ngạc nhiên khi nghe người dân tâm sự: “Hàng ngàn người dân Hải Thái chúng tôi ai cũng sống bằng nghề dọn bom mìn”. Cách xã Hải Thái không xa là xã Gio Thành, nơi mà mỗi buổi chiều về, không hiếm cảnh đội quân thu gom cưỡi công nông chở những vỏ bom vừa kiếm được trở về với niềm vui “thắng lợi”. Một người dân cho biết, đạn nhỏ được giới thu phế liệu mua với giá 1.000-2.000 đồng/viên, đạn lớn hơn từ vài chục ngàn đến 100.000 đồng/quả. Có lần, dân trong làng còn đi đào được cánh của một máy bay và bán với giá 5 triệu đồng, cả làng xôn xao như trúng… xổ số.
vỏ bom, đạn bên cạnh dụng cụ “cưa” bom.
Tới xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, chúng tôi được biết tới thôn Tân Hiệp nổi tiếng là thôn của nghề rà phá phế liệu song thật đáng buồn đó cũng là thôn của những… phế nhân. Có đến 80% số dân trong thôn từng hoặc đang làm nghề rà phá phế liệu, có cả trẻ em bỏ học đi làm nghề này. Đi từ đầu đến cuối thôn, gặp không hiếm người bị thương tật cũng như nhiều phụ nữ góa bụa vì chồng rà phá bom mìn như các chị Trần Thị Chìa, Trần Thị Gái, Mai Thị Thương, Nguyễn Thị Thu... Có gia đình cả hai cha con có cùng một ngày giỗ chỉ vì cùng cưa một quả bom. Có người như ông Nguyễn Văn Mạnh đã bị mất một con mắt và một ngón tay nhưng vẫn lao vào nghề nguy hiểm này. Cuộc đời ông có thể kể nhanh như một tiếng nổ: Bản thân bị chất độc da cam, đứa con 16 tuổi cũng bị chất độc trở nên ngây ngô, nhà quá nghèo, ông Mạnh chẳng còn nghề gì khác.
Vì sao nguy hiểm mà họ không sợ? Có thể tìm thấy câu trả lời qua cách dùng từ “trúng bom” y như “trúng số” của người dân Tân Hiệp. Chỉ cần “đầu tư” một cái máy rà phá 300-400 nghìn đồng, gặp quả bom đã kiếm được vài trăm nghìn đồng đến cả triệu đồng. Có người “hên” hơn, trúng cả hầm đạn thì cứ gọi là “ăn đủ”, dễ hơn làm ruộng ở vùng quê “đất cày lên sỏi đá”. Ruộng ít, thu nhập lại chỉ trông vào một vụ lạc mùa mưa thì người dân làm sao đủ sống?
Đi giữa cái nắng đầu hè Quảng Trị, không khó khăn lắm để bạn bắt gặp hình ảnh một người nào đó lưng đeo gùi hoặc tay cầm bao tải, tay cầm máy rà tự chế đang đi “kiếm ăn”. Thậm chí, ngay giữa thành phố Đông Hà, khu phố 2, phường 4 là nơi có rất nhiều người làm nghề rà tìm phế liệu chiến tranh. Dân khu phố này vốn là hơn 300 hộ vạn đò trên sông Hiếu rời sông nước lên lập nghiệp ở vùng gò đồi phía Tây Đông Hà từ năm 1976. Hết trợ cấp của Nhà nước, phần đông số họ chuyển qua làm nghề rà phá phế liệu vì không bỏ được tập quán sinh sống trên sông nước, không thích nghi với ruộng đồng, vườn tược ở vùng gò đồi cằn cỗi này dù đã có nhiều lớp tập huấn về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi. Cả khu phố đã có 29 người đã thiệt mạng, gần 40 người bị thương nặng vì mìn nổ trong lúc rà tìm phế liệu chiến tranh, nhưng họ vẫn chưa từ bỏ nghề. 35 năm sau chiến tranh, họ vẫn như ngày nào lên bờ trong nghèo đói. Ông Nguyễn Xuân Trường, Bí thư chi bộ khu phố đã phải thốt lên: “Gọi là phố, nhưng có lúc chúng tôi đã phải kiến nghị cho người dân hưởng chương trình 135 để giúp họ bỏ nghề mà không được?”.
Hoa trái… mọc lên, đạn bom chìm xuống
Ở xã Mò Ó, huyện Đăk Rông, vợ chồng chị Hồ Thị Điệp đã trở thành triệu phú thực sự từ khi từ giã nghề rà phá phế liệu. Cách đây tròn 5 năm, chị và chồng từ Đắc Lắc trở về quê cũ làm ăn với hai bàn tay trắng. Họ chẳng còn việc gì làm hơn là gia nhập đội quân rà phá phế liệu. Bàn chân hai vợ chồng đã lặn lội khắp núi rừng mấy huyện Cam Lộ, Hướng Hoá, Đăk Rông mà vẫn không đủ sống, lại chứng kiến nhiều cái chết kinh hoàng của những “đồng nghiệp”. Nhưng cũng nhờ lặn lội rừng xanh núi đỏ, chị đã tình cờ phát hiện ra trên những ngọn núi cao, có rất nhiều cây đót có thể làm chổi bán. Chị bàn với chồng, bán máy phế liệu mua dao kéo vào rừng chặt cây đót về làm chổi. Chăm làm, hàng tốt, chị làm tới đâu bán hết đến đó. Ăn lên làm ra, từ chỗ không có xe máy chở hàng, giờ chị đã mua được cả công nông để đi thu gom đót về làm chổi, bán cho các đại lý, thu nhập 4-5 triệu đồng/mỗi tháng. Cũng nhờ chổi đót, cách đây 3 năm, đời sống bớt khó khăn, chị đã đi học và biết chữ. Nhớ lại những ngày rà phá bom mìn, chị vẫn rùng mình: Nếu em không đổi nghề, chẳng biết bây giờ cuộc đời sẽ ra sao!
Anh Hồ Văn Keng, 34 tuổi ở thôn Tà Núc, xã Húc, huyện Hướng Hóa cũng là một người từ giã nghề này sau 12 năm đi kiếm bom mìn mà vẫn không đủ tiền dựng lại căn nhà tranh ọp ẹp. Năm 2008, sau sự kiện ông Ba Hùng ở cùng thôn đi đánh cá dính mìn chết cũng là lúc Keng nhìn lại mình. Thấy bà con trong bản, ai tham gia dự án đầu tư trồng cà phê do Công ty Cà phê dịch vụ đường 9 triển khai từ năm 2000 đều được vay vốn, hỗ trợ giống, kỹ thuật, đầu ra nên làm ăn đều khá lên cả, Keng quyết định đổi nghề. Đến nay, với 10 sào cà phê, sau 2 năm, anh đã có thu nhập hơn 10 triệu đồng mỗi năm. Bí thư đoàn xã Húc Hồ Văn Thăng cho biết: Cũng như Keng, cả xã trước có hơn 100 thanh niên đi rà phá phế liệu, nay đã bỏ nghề gần hết để trồng cà phê, chỉ còn chừng chục người vẫn đeo đẳng cái nghề nguy hiểm ấy.
Cách xã Húc không xa, các xã Tân Long, Tân Thành, Tân Phước… gần đây đã phất lên trở thành giàu có nhờ trồng cây chuối mật mốc còn được xuất khẩu sang Trung Quốc. Như ở xã Tân Long, có khoảng 40% hộ dân có thu nhập từ 100 đến 300 triệu đồng/năm. Vì thế, người dân những xã này chẳng màng đến chuyện rà phá bom mìn và chuyện những người bị thương vong do bom mìn hầu như rất hiếm.
Song đáng tiếc, những mô hình như thế chưa nhiều, hiện vẫn rất ít dự án giúp đồng bào nghèo “nuôi con gì, trồng cây gì” trên những “vùng đất chết” năm xưa để không còn sống kiếp “kền kền chiến tranh”. Có lẽ, chỉ khi nào cây cà phê, cây chuối, hồ tiêu thực sự lên xanh thay thế rừng hoang thì bom mìn mới thật sự không còn “lên tiếng”.
Kinh nghiệm ở Ăng-gô-la
Năm 2005, Đại sứ Ăng-gô-la, nước được Liên hiệp quốc đánh giá là điển hình về khắc phục hậu quả bom mìn đã chia sẻ kinh nghiệm: Việc đầu tiên là phải có một kế hoạch rõ ràng, một nghiên cứu, điều tra, lập bản đồ cặn kẽ về bom mìn. Chúng tôi có kế hoạch nâng cao nhận thức về hiểm hoạ bom mìn; triển khai các dự án để nâng cao đời sống, giúp dân có việc làm ổn định, không phải đi dò tìm, kiếm sống từ phế liệu chiến tranh. Chính phủ nước tôi đã đề ra khẩu hiệu kêu gọi toàn dân: “Biến những khu vực có bom mìn thành những vườn cây xanh trĩu quả!”. 

Đồng chí Bùi Hồng Lĩnh, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: "Vừa qua, dự thảo Chương trình hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn đã hoàn thành việc lấy ý kiến các bộ ngành, trình Thủ tướng phê duyệt. Khi dự án được thông qua, việc tập trung đẩy nhanh tiến độ rà phá, làm sạch những vùng ô nhiễm nặng và nhiều dự án hỗ trợ người dân sẽ là hướng đi hiệu quả để giảm nhanh tai nạn bom mìn, xoá bỏ nghề rà phá phế liệu chiến tranh…”.
Ghi chép của NGUYỄN VĂN MINH
Về miền đất sống bên… “thần Chết” (bài 3)
QĐND - Thứ Năm, 22/04/2010, 5:7 (GMT+7)
Bài 3: Những tiếng nói chặn bước tử thần
Buổi sáng, có tiếng gọi í ới đầu ngõ. Người đàn ông lùa vội bát cơm nguội rồi chạy vào góc nhà, vớ lấy cái máy rà. Đứa con 9 tuổi bất ngờ chạy lại, ôm lấy chân cha: “Cha ơi! Cha đừng đi kiếm bom nữa!”. “Không đi lấy gì mà ăn?”. “Đi kiếm củi, làm rẫy cũng sống được, chứ kiếm bom, chẳng may cha chết thì ai nuôi con?”. Người đàn ông giật mình nghe câu nói của đứa con bé bỏng. Cái máy rà rơi xuống đất”. Thầy giáo Phạm Ngọc Uy, Hiệu trưởng Trường tiểu học Tân Long (huyện Hướng Hóa) cho biết: “Câu chuyện ấy có được từ hoạt động giáo dục về bom mìn”…
Tiếng nói, tiếng hát “át” tiếng bom
Chiều đã muộn. Khói bếp trên những bản Vân Kiều ở xã Hướng Tân (huyện Hướng Hóa) đã bảng lảng nhưng anh Hồ Văn Lưu, Bí thư chi đoàn xã vẫn cặm cụi trong nhà cộng đồng thôn Trằm cùng mấy đoàn viên dịch các tài liệu tuyên truyền về bom mìn ra tiếng Vân Kiều, phục vụ buổi sinh hoạt chi đoàn vào buổi tối. 35 tuổi, Lưu lớn lên sau chiến tranh nhưng hầu như năm nào, anh cũng chứng kiến cảnh người dân trong làng bị chết vì bom mìn. Tính ra từ năm 1975 đến nay, cả xã đã có tới 53 người bị chết và bị thương vì bom mìn. Chỉ riêng từ năm 2009 đến nay, đã có 7 người thương vong sau hai vụ nổ “oái oăm”. Một vụ khi mấy anh em nhà Hồ Văn Trung ra vườn cuốc cà phê, một vụ khi chị Nhung ngồi đun bếp cùng mấy đứa nhỏ thì quả đạn găm trong cành cây phát nổ, giết chết một em bé 4 tuổi. Tài liệu trên cấp nhiều lần, nhiều đợt nên dẫu chưa qua bộ đội, trẻ em, thanh niên trong xã hầu hết ai cũng phân biệt được đâu là bom phá, đâu là bom bi, đạn pháo hay lựu đạn… Nhưng lần này, Đoàn cấp trên yêu cầu phải tuyên truyền mạnh việc không buôn bán phế liệu từ bom mìn. Tài liệu thì đã có, dịch ra thì dễ thôi nhưng làm sao để thanh niên, thiếu niên đến sinh hoạt thật nhiều, không lẽ chỉ nói chuyện tuyên truyền khô như… bom? Lưu lại tất tả phóng xe máy ra thị trấn, gặp Phó bí thư huyện đoàn Hà Ngọc Giao, mượn mấy đĩa ca nhạc về cho thêm “rôm rả”.
Một bức tranh đoạt giải cuộc thi vẽ tranh phòng chống tai nạn bom mìn ở Trường tiểu học Tân Long.
Tối 23-3-2010, trong khi ở thôn Trằm đang có buổi tuyên truyền bom mìn bằng tiếng dân tộc thiểu số thì tại xã Tân Hợp cách đó không xa, anh Hà Ngọc Giao đã có mặt để chỉ đạo một đêm sinh hoạt văn nghệ với chủ đề “Phòng chống tai nạn bom mìn”. Pa-nô, khẩu hiệu về bom mìn treo khắp sân. Tờ rơi, tài liệu xếp thành từng chồng trên dãy bàn gần sân khấu. 8 giờ tối, sân ủy ban xã đã chật kín bà con về xem. Có lẽ, điều hấp dẫn nhất với họ hôm nay ở chỗ, đêm văn nghệ sẽ có 2 tiểu phẩm do chính các cháu học sinh trong xã biểu diễn. Tiếp đó là phần trắc nghiệm hiểu biết về bom mìn, ai trả lời đúng sẽ được quà tài trợ từ các tổ chức quốc tế trong tỉnh gửi tới đêm văn nghệ. Kia rồi! Thằng Tý, thằng Hợp, con Hoa, những đứa bé năm kia còn theo cha ra đồng tìm phế liệu, nay lên sân khấu diễn lại câu chuyện thật như cuộc đời chúng. Tiểu phẩm bắt đầu. Câu chuyện nói về hai cậu bé nhà nghèo, kỳ nghỉ hè muốn kiếm tiền giúp bố mẹ bày nhau viết thư xin chị gái ở thành phố mấy trăm ngàn mua máy rà. Rồi chúng lên núi cuốc bom, tìm mìn. Một tiếng nổ vang lên! Máu, nước mắt, tiếng khóc, tiếng thét… Cả sân vận động lặng đi. Cách nơi có biểu diễn văn nghệ chỉ vài trăm mét, cửa hàng thu gom sắt vụn và phế liệu chiến tranh của ông Phúc vẫn sáng đèn…
Đó là hai trong nhiều hình thức giáo dục bom mìn thường xuyên được tổ chức ở Quảng Trị. Không chỉ ở tổ chức Đoàn, giáo dục bom mìn đã và đang đi sâu vào trường học, tới những thôn bản hẻo lánh. Trong những năm qua, đã có nhiều tổ chức quan tâm thực hiện các dự án khắc phục hậu quả bom mìn, trong đó chú trọng hoạt động truyền thông phòng tránh bom mìn sau chiến tranh như: Quỹ cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF), Tổ chức hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (VNAH), Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP)... Bên cạnh các tài liệu giáo dục bom mìn do Sở Ngoại vụ, Sở Giáo dục-Đào tạo tỉnh Quảng Trị phát hành, tổ chức cứu trợ và phát triển CRS cũng đã biên soạn những tài liệu giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn dành cho học sinh và giáo viên, có cả những tập truyện tranh phòng tránh tai nạn bom mìn dành cho các trường học…
Trường tiểu học Tân Long (huyện Hướng Hóa) tổ chức hội thi vẽ tranh về phòng tránh tai nạn bom mìn. Cả sân trường đông vui như ngày hội. Những chiếc bàn học sinh được kê ra giữa sân để các em vẽ đẹp (đã được tuyển chọn từ các khối) có dịp trổ tài. Sau hồi trống của thầy hiệu trưởng, cuộc thi bắt đầu. Bên những gốc bàng già xù xì có treo những tấm pa-nô “dừng lại-đừng động vào bom mìn”, các em bé hối hả vẽ. Em Võ Thị Lâm Vũ, học sinh lớp 5B với bức tranh nhỏ nhưng nói lên rất nhiều điều. Trong tranh, em vẽ một nhóm bạn đi học về, đang đào tìm vỏ bom. Phía xa gần đó, một bé gái đi cùng chú bộ đội tới ngăn chặn việc làm dại dột của các em. Em Nguyễn Ngọc Trang, lớp 5A với con đường đến trường thật thơ mộng, hai em bé đang đi học chợt nhìn thấy quả bom ẩn trong bụi cây dại kèm lời chú thích: “Nhìn kìa, có quả bom. Mau đến trường báo anh phụ trách!”. Hẳn phải có một sự đầu tư, giáo dục bài bản, thấm sâu, các em mới vẽ được những bức tranh như thế? Nhưng không, thầy giáo Phạm Ngọc Uy, Hiệu trưởng cho biết: Nhà trường chưa nằm trong diện “phủ sóng” đầu tư giáo dục về bom mìn. Với sự nhiệt tình và kinh nghiệm tổ chức giáo dục về bom mìn từ khi còn làm hiệu trưởng ở Lao Bảo, thầy Uy đã chủ động đưa chương trình giáo dục bom mìn vào trường mình dù chưa có kinh phí, chưa có tài liệu hay đồ dùng học tập. Thầy tâm sự: “Giáo dục về bom mìn cho trẻ em còn có cả tác dụng đối với người lớn. Tôi đã từng thấy một phụ huynh khóc và bỏ nghề rà phá khi nghe đứa con 9 tuổi nói: “Cha kiếm củi, làm rẫy cũng sống được, chứ kiếm bom, chẳng may cha chết thì ai nuôi con?”.
Quả bom truyền thông vẫn chưa được châm ngòi
97,8% số xã phường có hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa bom mìn, đạt mức cao nhất miền Trung. Số liệu điều tra của Bomicen nói trên nghe có vẻ “yên tâm”. Tuy nhiên, số nạn nhân tai nạn ở đây vẫn cao hơn rất nhiều so với các tỉnh khác. Ngoài lý do chính là mức độ ô nhiễm bom mìn nặng nề hơn, phải kể đến tính hiệu quả của các chương trình giáo dục, truyền thông còn nhiều điều đáng bàn.
Theo thầy Phạm Ngọc Uy, cả huyện Hướng Hóa hiện nay có 24 trường tiểu học và THCS nhưng mới có 10 trường có dự án giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn được đưa vào giảng dạy. Nếu tính toàn tỉnh Quảng Trị, chắc chắn số trường học cần được giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn còn lớn hơn rất nhiều. Với một tỉnh có mức độ ô nhiễm bom mìn nặng nề như ở Quảng Trị, để “phủ sóng” chương trình giáo dục bom mìn tới 100% các trường học, có lẽ không phải là một việc làm quá tốn kém. Vậy mà hiện nay, việc này vẫn còn bỏ ngỏ!
Về nội dung giáo dục, cũng còn nhiều vấn đề đáng bàn. Nghiên cứu một số tài liệu như tập truyện ngắn giáo dục về phòng tránh tai nạn bom mìn, tờ rơi tuyên truyền, tài liệu dành cho giáo viên về giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn của một số tổ chức quốc tế phát hành tại Quảng Trị, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số bất cập. Tập tài liệu dành cho giáo viên lớp 2 được tái bản lần thứ 9, ấn hành năm 2009 nhưng nội dung một số câu chuyện dẫn chứng lại trích nguồn từ các báo in từ năm 2004, xảy ra ở các địa phương khác, không gắn với Quảng Trị và lẽ ra có thể cập nhật được những vụ tai nạn điển hình hơn, có ý nghĩa giáo dục hơn, xảy ra gần hơn tại địa bàn Quảng Trị. Hay như tại tờ rơi và pa-nô truyền thông giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn do tổ chức cứu trợ và phát triển CRS phát hành, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy bức tranh vẽ cảnh một phụ nữ khệ nệ ôm quả bom ra bán cho người đàn ông, kèm theo bức tranh là câu khẩu hiệu: “Không tích trữ phế liệu trong nhà. Bạn hãy bán chúng đi sau khi kiếm được”. Trong khi mọi hoạt động truyền thông đều nỗ lực để ngăn chặn nghề rà phá, buôn bán phế liệu chiến tranh, một khẩu hiệu như thế đối với địa bàn có nhiều người dân trình độ học vấn còn hạn chế, rất có thể sẽ trở thành sự cổ vũ cho hoạt động buôn bán, dò tìm vật liệu nổ. Tuy nhiên, trả lời câu hỏi của chúng tôi về thông điệp này, ông Gregory T.Auberry-Trưởng đại diện CRS tại Việt Nam lại cho rằng: “Yêu cầu người buôn bán phế liệu bỏ nghề là rất khó. Chúng tôi đưa ra những thông điệp mang tính khả thi nhất”.
Những ngày ở Quảng Trị, đi đâu, chúng tôi cũng gặp khá nhiều pa-nô truyền thông, khuyến nghị người dân phòng tránh bom mìn. Tuy nhiên, một việc mà theo chúng tôi còn có ý nghĩa thiết thực hơn nhiều là cắm biển cảnh báo mức độ ô nhiễm bom mìn của từng khu vực cụ thể hay cắm biển thông báo những nơi đã và thường xuyên xảy ra tai nạn bom mìn giống như biển cảnh báo với nơi thường xảy ra tai nạn giao thông thì lại chưa được thực hiện. Đi trên địa bàn Quảng Trị, khó mà phân biệt được khu vực nào đã rà phá bom mìn, khu vực nào chưa rà phá, khu vực nào rà phá sâu đến bao nhiêu mét, khu vực nào đã “sạch” hoàn toàn? Thiết nghĩ, cùng với việc lập bản đồ ô nhiễm bom mìn, cần sớm có hệ thống biển báo những khu vực ô nhiễm bom mìn nghiêm trọng và đặc biệt nguy hiểm. Hệ thống biển báo này phải cụ thể, nhiều loại và chi tiết như… biển báo giao thông mới có thể góp thêm “những tiếng nói chặn bước tử thần”!
Truyền thông tai nạn bom mìn-còn nhiều “lỗ hổng”:
Thiếu tướng Hoàng Kiền, Giám đốc Ban quản lý dự án 47, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh: “Trong những chuyến công tác ở nước ngoài, chúng tôi thấy, người ta lập rất nhiều bảo tàng về bom mìn, thậm chí mỗi tỉnh một bảo tàng, trưng bày tất cả những bom đạn thu lượm được để người dân hiểu và phòng tránh. Tôi cho rằng truyền thông về bom mìn ở ta cần có nhiều hiện vật sống hơn nữa”...
Đại tá Nguyễn Trọng Cảnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn: Cần phải có một chiến lược truyền thông ở tầm quốc gia, được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm các hoạt động truyền thông đại chúng, giáo dục nguy cơ bom mìn tại cộng đồng, lồng ghép trong lĩnh vực giáo dục; đưa các bài giảng giáo dục nguy cơ bom mìn vào chương trình học chính khóa và các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường...
Ông Chuck Searcy, Trưởng đại diện Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF) tại Việt Nam: “Khoảng hơn 10 năm trước khi tôi tới Việt Nam, vấn đề chất độc da cam chưa được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và người dân Việt Nam cũng chưa thấy rõ ảnh hưởng của nó. Tới nay, nói đến chất độc da cam, người Việt Nam gần như ai cũng biết. Vậy mà vấn đề bom mìn nguy hiểm không kém lại chưa làm được như vậy”.
Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân: “Trong khi chúng ta đang nỗ lực tháo gỡ ngòi nổ của những quả bom nằm trong lòng đất thì có một quả bom cần được kích nổ: Quả bom truyền thông về khắc phục hậu quả bom mìn”.

Về miền đất sống bên… “thần Chết” (bài 4)
QĐND - Thứ Năm, 22/04/2010, 9:30 (GMT+7)
Bài 4: Nguyễn Ngọc Ký nơi đất lửa
Ở Quảng Trị, có hàng nghìn người bị thương tật do tai nạn bom mìn nhưng từ trong tột cùng khổ đau, họ vẫn đứng lên, “trái tim còn đập, còn xây cuộc đời”. Em Hồ Văn Lai, học sinh Lớp 10B3, Trường THPT Lê Lợi (thành phố Đông Hà) là một tấm gương như thế…
Cửa Việt - ngày hè định mệnh
Buổi trưa nào cũng vậy, ở Trường THPT Lê Lợi, có một học sinh lặng lẽ chống nạng đến trường sớm hơn các bạn chừng 20 phút, từ từ ngồi xuống ôn bài nơi cửa lớp. Mất cánh tay và một con mắt bên phải, em phải khó khăn lắm mới lấy được kính và sách để đọc. Ở tuổi 20, Hồ Văn Lai mới học lớp 10 bởi vụ nổ kinh hoàng đã xé nát cuộc đời em 10 năm trước…
Hồ Văn Lai bên góc học tập.
Ngày 19-6-2000, Lai vừa bước vào kỳ nghỉ hè ở quê, thị trấn Cửa Việt, huyện Gio Linh. Em mới 10 tuổi, cái tuổi còn quá nhỏ để biết rằng bến cảng bình yên tươi đẹp quê em một thời từng có hạm đội 7 của quân đội Mỹ hoạt động và dưới những bãi cát trắng mênh mang, biết bao đạn bom từng giội xuống. Mỗi lần nghỉ hè, mấy anh em họ hàng lại lang thang đi chơi trên những bãi cát trắng tuyệt đẹp, dưới hàng thông reo rì rào cùng gió biển. Bữa nay, Lai cùng mấy đứa em họ là Hồ Văn Tuấn cũng 10 tuổi như Lai, Hồ Văn Thuấn, 8 tuổi và Hồ Thị Vân 6 tuổi, em ruột Thuấn qua nhà bà ngoại Lai chơi. Từ thị trấn lên nhà bà đi qua bãi cát trắng rộng không có nhà cửa. Mấy đứa thích quá, chạy tung tăng, dùng que hất cát trêu đùa nhau. “Ầm!”, một tiếng nổ dữ dội như muốn xé toang trưa hè Cửa Việt. Lai thấy mắt tối sầm, đau rát khắp người, xung quanh đầy tiếng khóc… Mười năm đã trôi qua nhưng nhớ lại ngày hè kinh hoàng ấy, chị Bùi Thị Anh, mẹ của Thuấn vẫn nấc nghẹn: Vụ nổ (có lẽ là đầu đạn pháo) đã cướp đi của Lai hai chân, cánh tay phải, con mắt phải, một ngón tay trái, làm thương nặng mắt trái và nhiều vết thương khác trong người. Tuấn và Vân, con chị Anh và là em họ Lai chết ngay tại chỗ, chỉ có Thuấn may mắn hơn bị thương nhẹ. Vụ tai nạn gây chấn động cả huyện Gio Linh vì chưa bao giờ có một vụ tai nạn bom mìn rơi vào cùng một gia đình, cướp đi hai cháu bé và làm bị thương hai đứa.
Lai được đưa vào Bệnh viên đa khoa tỉnh Quảng Trị nhưng vết thương quá nặng, phải chuyển ngay vào Bệnh viên Trung ương Huế, nằm viện suốt 4 tháng trời. Khi về nhà, các bạn đã vào năm học mới, còn em vẫn trên giường bệnh. Không đi lại, mắt không nhìn rõ vì đau nhức, thị lực mắt trái còn lại chỉ gần 50%. Năm ấy Lai mới học hết lớp 5. Mấy năm trôi qua trong tủi buồn, đau đớn. Vết thương dần đã lành. Lai đã tập đi xe lắc, tập đi với nạng và chân giả, túc tắc đi lại trên con đường nhỏ gần nhà. Từ một cậu bé nhanh nhẹn, hiếu động với ước mơ trở thành chiến sĩ công an, Lai trở nên lầm lũi như một cái bóng lặng lẽ.
Đứng dậy
“Một buổi sáng! Không thấy Lai ở nhà, tôi hốt hoảng đi tìm. Tìm mãi không thấy con đâu. Tôi hốt hoảng đạp xe vừa đi vừa gọi. Tới cổng trường cấp 2, tôi nhìn thấy Lai đang ngồi trên xe lăn, mắt đăm đăm nhìn vào cổng trường. Nhìn thấy mẹ, Lai òa khóc: “Mẹ ơi! Con có đi học được không? Con có viết được không? Con có lên cấp 3 được không? Có vào đại học được không? Các bạn học cùng con sắp vào đại học cả rồi, mà con…”. Chị Sương mẹ Lai nhớ lại rằng chị chỉ biết ôm con vào lòng mà gật đầu nhưng khi ấy, chị không tin Lai có thể đi học trở lại được. Song chị không ngờ, Lai quyết tâm đi học thực sự. Em bỗng đổi khác bất ngờ. Sau ba mùa hè tuyệt vọng, Lai bắt đầu ngồi vào bàn tập viết những chữ cái đầu tiên. Tay phải mất, phải viết bằng tay trái, lại chỉ còn bốn ngón không lành lặn, vết thương làm 4 ngón tay dúm dó vào nhau. Lai phải đánh vật với từng con chữ. Một ngày, hai ngày, ba ngày… Những nét chữ nguệch ngoạc, những ngón tay đau nhức, nhất là ngón trỏ bị thương nặng cứ muốn rời ra. Nhưng Lai không nản chí. Mùa thu năm ấy, em trở lại trường, học lớp 6 với chiếc xe lắc trong khi các bạn cùng trang lứa đã vào lớp 11.
Lớp 6, lớp 7, lớp 8, rồi lớp 9… Không ai ngờ Lai có một sức vươn lên mạnh mẽ như vậy, em hoàn thành tốt mọi môn học (trừ môn thể chất) mà hầu như không hề có một sự ưu ái nào. Mùa hè năm ngoái, chị Sương vui sướng nghe con bày tỏ nguyện vọng muốn lên học cấp 3. Vui, nhưng lại đầy âu lo khi Lai không chọn trường bình thường mà chọn thi vào hẳn Trường THPT Lê Lợi, một trường điểm của thành phố Đông Hà với lý do đi học cho gần nhà hơn, nhiều thầy cô giỏi hơn. Không dừng lại ở đó, Lai chọn thi  vào ban A, ban dành cho những học sinh khá, giỏi các môn tự nhiên. Thật bất ngờ, Lai thi được 33 điểm, trong khi điểm chuẩn chỉ lấy 17,5. Em gái Lai, kém em 4 tuổi, cũng thi cùng nhưng lực học không bằng anh, nên không chọn thi cùng trường.
Ba anh em gồm Lai, Liễu – em ruột Lai, Thuấn – em họ, cũng là nạn nhân vụ tai nạn năm nào giờ cùng lên Đông Hà học cấp 3, cùng trọ học trong một gian phòng nhỏ hẹp và oi bức. Lai cơ thể thương tật, đi lại khó khăn, mỗi khi trở trời, các vết thương đau nhức nhưng em vẫn luôn thể hiện vai trò “anh cả”. Lai tự làm lấy mọi việc tắm, giặt, phơi quần áo và “chỉ đạo” các em sinh hoạt sao cho thật tiết kiệm. Bữa cơm thường chỉ có rau và đậu, thi thoảng mới có thịt, cá, ba anh em mà chỉ mua chừng 10.000 đến 15.000 đồng tiền ăn mỗi ngày. Hằng tuần, Thuấn và Liễu đạp xe về nhà lấy thêm gạo. Tiền thuê nhà hết 500.000 đồng rồi! Lai biết ba mẹ còn nghèo, lại phải nuôi 2 anh chị đang học đại học, thêm 2 con học cấp 3, xiết bao vất vả.
Cô Trương Thị Thu Hiền, cô giáo chủ nhiệm của Lai xúc động kể về em: Ban đầu, cô cứ nghĩ và đối xử với Lai như với một học sinh khuyết tật. Nhưng càng ngày, cô càng hiểu và cảm phục nghị lực cũng như nhiều phẩm chất tốt đẹp của cậu học trò đặc biệt này. Thi đỗ ban A, nhưng vì sức khỏe Lai đã chuyển xuống ban B học tập. Mắt kém, đi lại và chép bài khó khăn nhưng em vẫn theo kịp bạn bè khi ghi bài. Mọi môn thi, kiểm tra, Lai đều học và thi bình đẳng như các bạn khác, không hề có sự “châm chước”. Chỉ có một sự “ưu tiên” duy nhất của nhà trường: Thầy hiệu trưởng biết Lai đi lại khó khăn, đã bố trí lớp em học luôn ở tầng 1 và gần khu nhà vệ sinh. Điều bất ngờ nhất là Lai không chỉ theo kịp bạn bè mà còn học tốt hơn bạn bè. Hiện em đạt điểm số bình quân các môn học là 7,3 điểm, là học sinh có điểm số cao nhất lớp.
Một ước mơ không chỉ cho riêng mình
Thầy Nguyễn Đăng Hậu, Hiệu trưởng Trường THPT Lê Lợi cho biết: Lai là học sinh khuyết tật vì bom mìn duy nhất của nhà trường nhưng em không hề tự ti mà tràn đầy nghị lực, luôn quan tâm giúp đỡ người khác. Em Nguyễn Phước Bảo Khanh, học cùng lớp vừa chuyển từ Đà Nẵng ra, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có lúc chán nản, muốn bỏ học. Lúc này, chính Lai đã chủ động đến bên Khanh, động viên bạn vươn lên. Trong những chương trình truyền thông phòng tránh tai nạn bom mìn ở nhà trường, Lai luôn có mặt để nói với bạn bè những điều cần nói từ chính câu chuyện của mình. Lai cũng là người đã đoạt giải nhất trong cuộc thi vẽ tranh về đề tài phòng chống tai nạn bom mìn do tổ chức Cây hòa bình Việt Nam tổ chức.
Ước mơ vào đại học.
Lai cho biết, điều em mong mỏi nhất là làm sao có được nhiều sự hỗ trợ hơn từ xã hội cho những nạn nhân như em. Ở Quảng Trị, còn có hơn 400 trẻ em bị thương tật do bom mìn, nếu tính cả số thanh niên thì con số phải lên tới hàng nghìn. Vụ tai nạn mười năm trước đã làm gia đình em khánh kiệt vì phải chữa chạy cho em, dù đã nhận được những hỗ trợ đáng quý của các tổ chức. Em được mọi người biết đến và giúp đỡ một phần nhờ báo chí. Nhưng vẫn còn bao trẻ em và thanh niên thiệt thòi vì bom mìn như Thuấn bị thương, như Tuấn, như Vân - em họ em đã chết và biết bao người khác thì không ai biết đến, không nhận được bất kỳ một sự hỗ trợ nào… Nghe tâm sự của Lai, nhớ lại cảnh 3 anh em bên bữa ăn trị giá mươi nghìn đồng trong căn phòng trọ oi bức, tôi thầm nghĩ, giá như ở Quảng Trị, có một quỹ hỗ trợ cho các nạn nhân bom mìn, nhất là một quỹ hỗ trợ riêng cho các trẻ em là nạn nhân bom mìn thì tốt biết bao nhiêu? Tôi lại chợt nhớ ông Hoàng Văn Thông, Phó chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Trị, có lần cũng từng mong mỏi: “Cứ mỗi khi có tai nạn bom mìn, chúng tôi lại phải đi gõ cửa, xin các cơ quan giúp đỡ. Giá như Chính phủ lập một quỹ hỗ trợ cho các em nhỏ là nạn nhân tai nạn bom mìn thì tốt biết bao?”.
Xóm trọ của những học sinh nghèo khi tôi đến, đêm đã về khuya. Ngọn đèn bàn, chiếc máy vi tính trong phòng Lai vẫn sáng. Lai là học sinh duy nhất trong khu trọ có máy tính. Em không ngần ngại bày tỏ ước mơ sẽ được theo ngành công nghệ thông tin khi vào đại học với một mong mỏi bình dị: Có được một công việc để tự nuôi sống bản thân. Còn nguyện vọng trước mắt, em chỉ muốn được chữa trị lại con mắt còn lại để học tốt hơn.
Dẫu mọi so sánh là khập khiễng nhưng tôi xin được gọi Lai là một “Nguyễn Ngọc Ký ở Quảng Trị” với mong muốn em sẽ tiếp bước thầy, tiếp tục là tấm gương tuyệt đẹp cho những số phận thiệt thòi vẫn khao khát vươn tới!

“Nạn nhân bom mìn thường bị ảnh hưởng nặng nề về tâm lý, có người hoảng sợ đến điên loạn. Họ dễ bị xa lánh, cô đơn và kiệt quệ về kinh tế. Nếu không nỗ lực vươn lên, họ sẽ trở thành gánh nặng suốt đời cho gia đình và xã hội. Gần 1/3 gia đình có nạn nhân sống sót hiện đang sống với mức 5.000 đồng/ngày hoặc ít hơn. Nguy cơ thất nghiệp đối với họ cao gấp 3,5 lần so với khi chưa gặp tai nạn”. 
(Trích tài liệu của Trung tâm Hành động khắc phục hậu quả bom mìn - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội).

Tại cuộc giao lưu “Khắc phục hậu quả bom mìn vì bình yên cuộc sống”, em Hồ Văn Lai được Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tặng học bổng trị giá 5 triệu đồng. Em xúc động nói: “Ở tỉnh Quảng Trị, còn có hơn 400 trẻ em có hoàn cảnh như em, nếu tính cả thanh niên thì con số phải lên tới hàng nghìn. Phần đông trong số họ không nhận được bất kỳ một sự hỗ trợ nào. Rất cần có một quỹ hỗ trợ cho các nạn nhân bom mìn, nhất là một quỹ hỗ trợ riêng cho các trẻ em là nạn nhân bom mìn …”.
\
Bài 5: Cuộc chiến đấu dũng cảm và trí tuệ của người lính
Dẫu còn rất nhiều “thần chết” ẩn náu nhưng “đất lửa” đang từng ngày hồi sinh, sự sống cựa mình theo dấu chân người lính gỡ bom mìn đi qua cùng với tâm sức của cả cộng đồng, có cả bạn bè quốc tế. Trong đó, đóng góp nhiều nhất từ bàn tay bộ đội công binh lặng thầm mang mùa xuân về dưới cỏ…
Ngày mới
Khi chúng tôi đến Quảng Trị, mùa hè sắp sang nhưng bóng dáng của mùa xuân như vẫn còn đây đó. Cây cỏ như xanh hơn. Đi trên đường phố Đông Hà, thỉnh thoảng tôi lại thấy một chiếc xe quân sự chở những người lính công binh trẻ mang quân phục dã chiến bê bết đất chạy vụt qua, dòng chữ to tướng trên thân xe “Nếu phát hiện bom mìn, hãy gọi số 0905.828282”. Sự bình yên kèm theo tốc độ hối hả của những chiếc xe ấy như một lời chào đón của miền đất lửa còn bộn bề với việc tháo gỡ bom mìn.
Mỗi buổi sớm, có rất nhiều bộ đội công binh hối hả tỏa về khắp nẻo. Trong khi đội rà phá của Bộ CHQS tỉnh đang cặm cụi làm việc ở Đông Hà thì trên nẻo rừng Hướng Hóa lạnh giá hay ở khu vực Thành Cổ nóng bỏng năm nào, các đội rà phá của Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn đang miệt mài rà phá ở Cửa Việt tại dự án phối hợp với Quỹ Cựu chiến binh Mỹ. Ở địa bàn khác, lực lượng của Đoàn công binh Hải Vân cũng đang tích cực hoạt động…
Không phải bây giờ, việc rà phá bom mìn mới được “làm mạnh”. Ngay sau khi miền Nam im tiếng súng, từ tháng 5-1975 đến tháng 5-1977, Quảng Trị và nhiều địa phương khác đã có một cuộc ra quân lớn rà phá bom mìn. Thuốn, máy dò, súng phun lửa, máy ủi, thậm chí cả… xe tăng kéo con lăn đã được huy động cho cuộc chiến đấu vì bình yên cuộc sống này. Chị Lê Thị Mua khi ấy là bộ đội ở thị đội Đông Hà, chỉ với một cây thuốn dò mìn bé nhỏ và bàn tay phụ nữ cần cù, có ngày đã dò gỡ được tới 82 quả mìn, được tuyên dương là chiến sĩ thi đua năm 1975. Tuy nhiên, chỉ 2 năm, để có gần 10 vạn héc-ta đất lành, hơn 4.000 người bị thương vong khắp miền Nam, trong đó có rất nhiều người Quảng Trị. Một cái giá không nhỏ!
Rất hiếm đơn vị như Đội rà phá bom mìn Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị có kính bảo hiểm, áo giáp khi làm việc.
Suốt mấy chục năm trời, rà phá bom mìn được quân đội thực hiện theo nhiệm vụ. Từ 1986 đến nay, việc rà phá mới bài bản hơn, xuất hiện khái niệm “hợp đồng kinh tế”. Thiếu tá Phùng Mạnh Lý, Đội trưởng Đội rà phá bom mìn Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị “bật mí”: Ở Quảng Trị, có một vài dự án khắc phục hậu quả bom mìn được các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ trợ giúp. Nhưng về rà phá, theo quyết định của Chính phủ, chỉ Bộ Quốc phòng là lực lượng được giao trực tiếp thực hiện. Chỉ có người lính với kiến thức cơ bản và sự dũng cảm, trí tuệ mới có thể vào cuộc “chiến đấu” với bom mìn…
Bản lĩnh và trí tuệ
Hơn 40 tuổi, anh Lý đã có 10 năm gắn bó với Đội rà phá bom mìn. Anh mở tôi xem cuốn sổ tay ghi nhanh số bom mìn tháo gỡ hằng tuần cỡ 200-300 quả. Hôm nay lại là thứ bảy nhưng Lý và đồng đội vẫn lên đường làm việc vì những dự án rà phá quá nhiều, nhiệm vụ quá cấp bách, không cho phép các anh nghỉ ngơi. Nơi các anh đến là khu đồi trống phía Nam thành phố Đông Hà, sẽ mọc lên khu trụ sở hành chính mới trong nay mai. Máy ủi, máy xúc đã tấp nập làm việc ngay bên cạnh những vùng đồi, bãi đất trống mà bộ đội công binh đang căng dây đỏ chuẩn bị rà phá.
Việc rà phá “kỹ” đến đâu? Trước kia, vì lý do kinh phí, nhiều nơi mới rà phá được tới độ sâu 0,3 mét. Nay theo tiêu chuẩn được Bộ Quốc phòng quy định, việc rà phá và xử lý tín hiệu bom mìn, vật liệu nổ được thực hiện ở các độ sâu 0,3 mét, 3 mét và cuối cùng là 5 mét. Dưới 5 mét và sâu hơn nữa, vẫn có thể có bom mìn nhưng điều kiện hiện nay chưa cho phép làm kỹ hơn.
Dừng chân bên ngoài bãi rà phá, tôi hơi chờn chợn khi thấy khá nhiều những biển cảnh báo màu đỏ có hình đầu lâu xương chéo và dòng chữ “Nguy hiểm chết người”. Chưa hết, anh Lý còn yêu cầu tôi ký vào bản cam kết trước khi tham quan kèm lời yêu cầu: “Luôn đi theo dấu chân người dẫn đường”. “Thế cũng là giảm bớt thủ tục rồi, chứ như ở nước ngoài, tất cả những người vào bãi rà phá bom mìn còn bắt buộc phải mua bảo hiểm nữa” - anh cười thông báo. 31 tuổi, Trung úy Nguyễn Thành đã có thâm niên 5 năm rà phá bom mìn. Quê anh ở huyện Vĩnh Linh nên Thành chẳng lạ đạn bom trong lòng đất. Mặc áo giáp, đeo kính bảo hiểm, Thành tự tin cầm máy rà từ từ tiến vào lô đất vừa chăng dây. Chúng tôi nín thở nhìn theo. Chưa đầy ba bước, máy rà trên tay anh đã phát ra tiếng kêu “u u” liên tục. Phía xa cách Thành chừng 50 mét, một đồng đội của anh cũng cầm máy rà ở độ sâu 3 mét, thận trọng từng ly. Họ phải làm cách xa nhau như thế để nếu có… tai nạn, thương vong sẽ giảm đi. Dừng lại chỗ có tín hiệu, Thành cắm một lá cờ đỏ... Rồi anh nhẹ nhàng rút cái xẻng bộ binh, cái búa chim thận trọng xén từng miếng đất nhỏ. “Kéc”, một tiếng kêu khô khốc sau nhát xẻng của Thành khiến tôi rợn tóc gáy. Anh Lý bảo: “Mình rà phá kiểu Việt Nam, với kinh nghiệm và sự dũng cảm nên tiến độ nhanh, dùng cuốc, xẻng, chứ ở nước ngoài, họ dùng dao găm, xẻ từng tí đất như… xẻ bánh”. Thành báo cáo đã phát hiện một quả đạn pháo 75mm, rồi anh nhẹ nhàng “bế” nó về nơi tập kết. Nơi tập kết, chao ôi, lổn nhổn đầu đạn cối, bom bi… Đó là sản phẩm Đội rà phá mang về sau chưa đầy hai giờ!
Nắng trưa đã rát bỏng trên mặt, bộ quân phục dã chiến của Thành ướt đầm mồ hôi. Tốt nghiệp trung cấp quân khí, đã được tiếp xúc với nhiều loại đạn, bom trên giảng đường nhưng Thành cũng không thể ngờ bom đạn ở Quảng Trị lại nhiều loại đến thế. Quen với bom đạn, nhưng vẫn có lúc căng thẳng, bất ngờ. Có lần, anh em vừa phát quang thì bỗng “bụp”, một tiếng nổ nhẹ trong bụi cây. Chưa ai kịp hiểu gì thì đã nghe anh Lý hét: “Bom phốt pho đó! Chạy đi”. Tất cả vừa dạt ra thì chỉ trong giây lát, cả một mảng đồi rừng rực cháy vì bom phốt pho phát tán, bắt vào cây, vào đá, cháy liên tiếp gần một giờ đồng hồ. Nếu không có kinh nghiệm của anh Lý, hôm đó, chắc chắn sẽ nhiều người bị bỏng nặng, có thể chết vì phốt pho bám chặt vào người, rất khó dập tắt.
Tháng 8-2009, Thành và đồng đội đụng một “ổ bom tấn” gần cửa khẩu Lao Bảo, có tới 7 quả “bom cụ”, quả to nhất lên tới 2.000 bảng Anh, to như một cái lu nước. Ban đầu, hơi “choáng” về độ to của bom. Nhưng anh em đã bình tĩnh xử lý nhanh chóng.
Tôi tới bên một trung úy trẻ, ngồi bên xe quân y. Anh là Lê Văn Thọ, y sĩ của Đội, cũng đã có hơn 12 năm bám Đội rà phá bom mìn. Thọ bảo, chỉ riêng anh là “nhàn” nhất Đội. Trong 12 năm làm quân y, hầu như anh “thất nghiệp”, chỉ duy nhất một lần có đồng đội bị thương. Khi ấy vào năm 2002, đang rà phá bom mìn ở xã Cam Tuyền huyện Cam Lộ thì Nguyễn Xuân Trung, chiến sĩ của Đội “dính” một quả đạn M79. Đó là loại đạn rất khó xử lý vì khi nó được bắn ra, gặp vật cản, chưa xoay đủ vòng, nếu một tác động nào đó làm nó đủ “vòng”, sẽ phát nổ ngay lập tức. Tai nạn làm Trung bị mất một ngón tay, mắt bị thương nặng, thương tật 48%. Ấy vậy mà ra viện, cậu ấy lại nằng nặc đòi đi làm nhiệm vụ. Nhưng cấp trên đã điều anh về làm nhân viên kho kỹ thuật, tiếp tục cái nghề ở bên súng đạn.
 Xử lý theo “cách của Việt Nam
Trung tá Lê Mạnh Hùng, Trưởng ban Công binh Bộ CHQS tỉnh tự tin nói rằng, không có quả bom, quả đạn nào mà các anh chịu bó tay, dù cơ chế hoạt động của nó phức tạp đến thế nào. Ngay cả các chuyên gia người Mỹ khi sang Việt Nam cũng kinh ngạc trước trình độ xử lý của bộ đội công binh Việt Nam. Anh Hùng không chỉ nắm chắc các loại bom mìn, đạn từ nguồn do Bộ Quốc phòng Mỹ cung cấp mà còn nắm cả những loại khác từ kinh nghiệm thực tiễn. Có nhiều loại chính các cựu chiến binh Mỹ cũng không hiểu cơ chế nổ. Bởi những năm chiến tranh, phía Mỹ biết bộ đội ta có thể dò gỡ, khắc phục bom mìn nên đã liên tục “lên đời” các thế hệ bom với cơ chế nổ vô cùng lắt léo.
Nghe anh Hùng nói, tôi lại nhớ có lần Đại tá Nguyễn Trọng Cảnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn khẳng định: “Chỉ có đạn bom chưa nổ, không có bom đạn “câm” vì số còn sót lại sau chiến tranh đều ở tư thế chiến đấu. Những sự tác động đều có thể gây nổ. Nhưng với kiến thức, trình độ, bản lĩnh và kinh nghiệm, bộ đội công binh Việt Nam chưa bao giờ “bó tay” trước bất kỳ quả bom, đạn nào”. Bằng chứng là với những quả khó nhất như quả bom to nhất Đông Dương được phát hiện ở Gia Lai hay quả bom tấn mà Xí nghiệp vật liệu nổ của Công ty Lũng Lô phát hiện, khi gặp khó khăn nhất, sẽ có sự vào cuộc của những chuyên gia hàng đầu từ Hà Nội. Giám đốc trung tâm, giám đốc xí nghiệp cũng đi “cưa bom” là chuyện thường ngày của… bộ đội công binh!
Thiếu tá Phùng Mạnh Lý cho tôi hay một khái niệm thú vị, “xử lý bom mìn theo kiểu… Việt Nam”. Mấy thứ áo giáp, kính bảo hiểm mà Đội của anh có được là nhờ tham gia dự án và được các tổ chức quốc tế cung cấp, chứ mỗi bộ trị giá cả mấy chục ngàn đô-la, bộ đội công binh trong toàn quân hiện nay vẫn chưa được trang bị chúng. Thêm nữa, trong điều kiện kinh phí hạn hẹp, bộ đội công binh cũng không có “mua bảo hiểm” mỗi lần đi rà phá như cách làm ở nước ngoài. Về bồi dưỡng, mỗi người cũng chỉ được 60.000 đồng/ngày trong khi với định mức kinh phí theo “chuẩn” của nước ngoài, những người rà phá bom mìn được trả mức lương lên tới hàng nghìn đô-la mỗi tháng. Đơn giá rà phá cũng “rất Việt Nam”, một héc-ta bãi mìn “cấp 1”, chỉ 18 triệu đồng, trong khi cũng với một héc-ta đó, ở nước ngoài, chi phí lớn hơn rất nhiều…
“Làm cẩn thận nhưng phải nhanh gọn! Bởi một thống kê cho thấy, để làm sạch bom mìn ở nước ta, phải mất khoảng 10 tỷ đô-la và hơn 300 năm nữa. Tiền của thì có thể đầu tư, nhưng không lẽ để 3 thế kỷ nữa mới sạch bom mìn thì còn biết bao người dân vô tội phải đổ máu!”. Câu nói của anh Lý cứ ám ảnh trong tôi dù trời xanh Quảng Trị đã lùi lại phía sau lưng. Màu xanh ấy nhòa trong màu đỏ như máu của tấm bản đồ ô nhiễm bom mìn tôi nhìn thấy hôm nào. Tôi hiểu, để “xanh hóa” tấm bản đồ “màu máu” ấy, còn rất nhiều việc phải làm…
Bao giờ rà phá hết bom mìn? Theo Thiếu tướng Dương Đức Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh, với đầu tư như vừa qua, đến nay, cả nước mới rà phá được 12% diện tích đất có bom mìn và sẽ phải mất khoảng 10 tỷ đô-la, trong 300 năm nữa mới có thể dọn sạch bom mìn. Song nếu đầu tư tốt hơn, thời gian này sẽ ngắn lại. Sau 5 năm kể từ khi Liên hiệp quốc tổ chức ngày Thế giới Phòng, chống bom mìn, đã có 14/84 nước tuyên bố không còn ô nhiễm bom mìn. Tổng thư ký Liên hiệp quốc khẳng định: “Nhiệm vụ gỡ bỏ hết bom mìn rất nặng nề, nhưng nếu cả thế giới quan tâm góp sức, có thể hoàn thành trong một số năm, chứ không dài như người ta vẫn nghĩ trước đây”. 
 
Ghi chép của NGUYỄN VĂN MINH