Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Tuyên bố sai trái của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Trường Sa – dưới ánh sáng công pháp quốc tế Bài 1: Việt Nam không “tiền hậu bất nhất” theo nguyên tắc estoppel

Tuyên bố sai trái của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Trường Sa – dưới ánh sáng công pháp quốc tế
Bài 1: Việt Nam không “tiền hậu bất nhất” theo nguyên tắc estoppel
                           PGS, TS Nguyễn Bá Diến
Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế, Khoa Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế
L.T.S: Những năm gần đây, để biện minh cho những tham vọng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc liên tục đưa ra nhiều chứng cứ bịa đặt, trong đó nổi bật là việc “bóp méo” công thư năm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tại cuộc họp báo quốc tế do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức gần đây, Việt Nam một lần nữa tái khẳng định, Công thư trên không đề cập lãnh thổ chủ quyền, không đề cập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Để làm rõ vấn đề này dưới góc độ công pháp quốc tế, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã ghi nhận ý kiến của các chuyên gia về luật biển quốc tế đưa ra các luận cứ khoa học bác bỏ những luận điểm sai trái của phía Trung Quốc
-PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Hoàn cảnh và ý nghĩa thực tế của Công thư 1958
Trên các diễn đàn pháp lý và trong nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam trong thời gian qua đã có một số luật gia phân tích về giá trị pháp lý của bức thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu trên cũng như phản bác lập luận của phía Trung Quốc. Nhân sự kiện mới đây phía Trung Quốc nêu lại vấn đề này, chúng tôi trao đổi quan điểm về Bức thư ngày 14-9-1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như sau:
Trong bối cảnh của thời kỳ chiến tranh lạnh và thế giới phân chia thành hai phe: Tư bản chủ nghĩa (TBCN) và xã hội chủ nghĩa (XHCN), xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan (Đài Loan lúc đó còn giữ hai đảo nằm giáp lục địa Trung Quốc là Kim Môn và MãTổ), hảiquân Hoa Kỳ đến vùng eo biển Đài Loan, khiến Trung Quốc lo sợ rằng Mỹ có thể tấn công xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra Tuyên bố về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958 với nội dung như sau:
(1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) (3) ...
(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ... Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoài không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc”.
Đáp lại tuyên bố này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức thư ngày 14-9-1958 cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:“Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Tại sao lại có bức thư này và với nội dung như trên? Hoàn cảnh ra đời và giá trị pháp lý của nó là gì? Để đánh giá một cách khách quan giá trị của bức thư này, chúng ta cần xem xét bối cảnh ra đời cũng như nội dung chính của văn bản này, và cần đặt nó dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế.
Thứ nhất, về khía cạnh chính trị - ngoại giao, chúng ta cần xét đến bối cảnh thực tế của quan hệ quốc tế và quan hệ Việt - Trung tại thời điểm năm 1958 để hiểu cặn kẽ vì sao Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) lại có văn bản này - trong bối cảnh của thời kỳ Chiến tranh lạnh với sự va đập và đối kháng giữa hai lực lượng, hai hệ tư tưởng: phe TBCN (trung tâm là Hoa Kỳ) và phe XHCN (Liên Xô, Trung Quốc). Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, những phần tử diều hâu trong giới quân sự Hoa Kỳ vẫn chống Trung Quốc và đưa hạm đội vào hoạt động trong eo biển Đài Loan, đe dọa Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc cũng đã trở thành đối tượng của chiến lược bành trướng của Hoa Kỳ ở châu Á nhất là từ khi quân Trung Quốc pháo kích liên tục Kim Môn và Mã Tổ . Theo Tập tài liệu Lầu năm góc - Airforce Magazin, trong “kế hoạch hành động đối với Việt Nam” viết ngày 24-5-1965, Mc Naughton đã lên danh sách mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà một trong bốn mục tiêu đó là “để bảo vệ Nam Việt Nam và cùng lân cận khỏi tay Trung Quốc”.

Cột mốc chủ quyền ở Hoàng Sa của Việt Nam năm 1938
- Binh lính Việt Nam và gia đình đào giếng ở Hoàng Sa năm 1938
Bia chủ quyền do chính quyền Việt Nam Cộng hoà đặt trên Đảo Nam Yết năm 1956
Vào thời điểm đó, Việt Nam đã trở thành lực lượng xung kích trong tuyến đầu chống lại Hoa Kỳ và trở thành đồng minh chiến lược của Trung Quốc, “vừa là đồng chí vừa là anh em”, “anh em một nhà” (Trung - Việt nhất gia). Hơn nữa, lúc bấy giờ Hội nghị Giơnevơ của Liên hợp quốc về Luật biển đã ban hành 04 Công ước, trong đó có Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958. Trung Quốc muốn thể hiện vị thế nhất định của mình trên trường quốc tế nên đã ban hành Tuyên bố ngày 4-9-1958 về lãnh hải. Do vậy, bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, chắc chắn không định đề cập đến vấn đề pháp lý về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, mà chỉ nhằm một điều duy nhất, đó là: Thể hiện sự ủng hộ càng sớm càng tốt việc quy định lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để cản tay đế quốc Mỹ. Đúng như luật gia Lưu Văn Lợi, Cưụ Chánh văn phòng - Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989) - đã nhận định: «Nếu ai cho đó là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa thì là đi quá nội dung và mục đích của Công thư, đồng thời phủ nhận tình cảm thiêng liêng trong lòng người Việt Nam, người Trung Quốc lúc bấy giờ».
Phải đứng trên tinh thần đó và bối cảnh những năm 50-60 của thế kỷ trước để hiểu bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không phải là sự tuyên bố của VNDCCH từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ phản ánh một sự thật trong giai đoạn tốt đẹp của tình hữu nghị Việt - Trung.
Bia chủ quyền trên đảo Sinh Tồn Đông hiện nay
Việt Nam không vi phạm 4 điều kiện của nguyên tắc estopel
Thứ hai, về mặt pháp lý, có học giả đã nêu thuyết estopel (nguyên tắc) để khẳng định bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là có sự ràng buộc đối với Việt Nam và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.
Vậy thuyết estopel là gì? Theo thuyết này, một quốc gia phải nhất quán trong ứng xử và không được bác bỏ một thực tế đã được chính quốc gia này thừa nhận trước đó. Mục tiêu chính của nguyên tắc này là không cho phép một quốc gia được hưởng lợi hoặc gây thiệt hại cho một quốc gia khác thông qua cách ứng xử không nhất quán của mình.
 Theo phán quyết của Tòa công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Nicaragua trong vụ Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua, thì: "Estoppel có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được thực hiện một cách rõ ràng và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động và phải chịu thiệt hại. Các luật gia đều cho rằng, ngầm công nhận trong một tình huống nhất định sẽ dẫn đến estoppel. Nếu quốc gia đã biết rõ về một sự việc cụ thể song vẫn giữ im lặng thì việc im lặng đó phải được giải thích là sự đồng ý, chấp nhận và sẽ không đưa đòi hỏi ngược lại.
 Các luật gia cũng khá thống nhất trong quan điểm gắn việc ngầm công nhận với estoppel khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ và cho rằng trong tranh chấp lãnh thổ, việc ngầm công nhận sẽ đồng nghĩa với estoppel nếu: (i) Các bên tranh chấp lãnh thổ đều đưa ra các yêu sách trái ngược nhau; (ii) Các bên đều biết rõ các yêu sách của nhau; (iii) Một bên giữ im lặng hoặc không có ý kiến hay hành động gì trước yêu sách của đối phương và như vậy bị mất đi quyền của mình.
Như vậy, theo thuyết estopel, thì phải hội đủ 04 điều kiện: (1) thái độ, lời tuyên bố của một quốc gia nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; (2) thái độ, lời tuyên bố đó phải được thể hiện rõ ràng; (3) thái độ, lời tuyên bố đó phải được thể hiện liên tục; (4) khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động hoặc phải chịu thiệt hại.
Áp dụng những nội dung trên của nguyên tắc estopel vào bức thư của Thủ tướng VNDCCH cho thấy thiếu tất cả các điều kiện nêu trên.
Theo điều kiện thứ nhất của nguyên tắc estoppel, thì bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không phải là tuyên bố của Việt Nam về từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vì các lẽ:
Một là, căn cứ Hiệp định Giơnevơ 1954 và các điều khoản của Hội nghị Giơnevơ 1954 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Đông Dương, nước Việt Nam tạm chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, miền Nam Việt Nam do Chính quyền miền Nam Việt Nam) tiếp quản kể cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản ghi nhớ ngày 4-3-1966 của Phòng Pháp lý Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ với tên gọi “Tính hợp pháp của sự tham gia của Mỹ vào phòng thủ Việt Nam” có viết: “Các thoả thuận Giơnevơ năm 1954 quy định chia Việt Nam thành hai vùng bằng vĩ tuyến 17. Mặc dù ranh giới này được hiểu tạm thời, nó được ấn định bởi một thoả ước quốc tế, đặc biệt ngăn cấm sự xâm lược của một vùng này chống lại một vùng khác. Việt Nam Cộng hoà về sau ở phía nam đã được công nhận như một thực thể quốc tế riêng biệt bởi gần 60 chính phủ trên thế giới. Việt Nam cộng hoà đã được chấp nhận là thành viên của nhiều tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc. Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1957 đã biểu quyết đề cử Nam Việt Nam là thành viên của tổ chức, và việc kết nạp chỉ bị ngăn cản bởi quyền phủ quyết (veto) của Liên bang Xô Viết trong Hội đồng bảo an”.
Như vậy, theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954, thì về phương diện Nhà nước,VNDCCH không có thẩm quyền để quyết định về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lúc bấy giờ. Bởi vì, về vấn đề lãnh thổ, nguyên tắc chính của luật quốc tế là nguyên tắc thực sự. Bên liên quan “không thể chuyển dịch nhiều hơn các quyền mà họ có”. VNDCCH không có các quyền quản lý thực sự các đảo này trong thời điểm đó để có thẩm quyền chuyển nhượng chúng cho Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là người kế thừa hợp pháp các danh nghĩa, các quyền và các yêu sách do Pháp để lại trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Với tư cách là chính quyền sở hữu danh nghĩa, VNCH đã tiến hành quản lý hành chính, điều tra và khai thác kinh tế và bảo vệ hữu hiệu hai quần đảo. Đối với Hoàng Sa, chính quyền VNCH đã tiến hành nhiều hoạt động như: cấp giấy phép khai thác phân chim trên ba đảo Quang Ảnh, Hữu Nhật và Trường Sa năm 1956, 1959, 1973; sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam tháng 7 năm 1961; tổ chức hải quân tuần tiễu thường xuyên tại các vùng biển quanh đảo, bắt xử lý các tàu cá có vũ trang của Trung Quốc xâm nhập trái phép. Chính phủ VNCH đã ban hành nhiều văn bản pháp lý khẳng định chủ quyền này, như: Tuyên bố 2289 ngày 4-6-1956 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VNCH về các đảo Hoàng Sa, Trường Sa đều là của Việt Nam; Sắc lệnh số 143-NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống VNCH về địa phận hành chính của Nam Việt Nam, theo đó Hoàng Sa cùng với Bà Rịa và Vũng Tàu được sáp nhập thành tỉnh Phước Tuy; Nghị định 24/BNV của Bộ Nội vụ về việc cử ông Nguyễn Bá Thược đảm nhận chức vụ Phái viên hành chính tại Hoàng Sa ngày 14-12-1960; Sắc lệnh số174-NV về sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam ngày 13-7-1961 của Tổng thống VNCH; Công hàm số 120 ngày 21-1-1974 của Chủ tịch Thượng nghị viện VNCH, Trần Văn Lắm gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc nhân sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam...). Trong thực tế, việc Trung Quốc chiếm đóng một phần của quần đảo này trong thời kỳ này (nhóm đảo An Vĩnh, năm 1956) là hoàn toàn bất hợp pháp.
Về vấn đề này, luật gia Monique Chemillier - Gendreau - một trong những học giả hàng đầu về Luật quốc tế đã viết như sau: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam (VNDCCH) không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên các quần đảo này. Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có quyền lực...”.
Hai là, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế, Thủ tướng VNDCCH không có thẩm quyền thay mặt quốc gia để quyết định vấn đề liên quan đến lãnh thổ của đất nước với nước ngoài. Bởi theo Điều 32 Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày 9-11-1946, các vấn đề liên quan đến vận mệnh của đất nước sẽ được quyết định bằng trưng cầu dân ý với điều kiện 2/3 tổng số nghị viên (đại biểu Quốc hội) đồng ý và cách thức phúc quyết sẽ do luật định.
Theo điều kiện thứ hai của nguyên tắc estoppel, về tính “rõ ràng” của Bức thư thì cũng không đáp ứng như yêu cầu của nguyên tắc estopel. Nội dung bức thư chỉ đề cập việc “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc” và “tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”, không một từ nào đề cập quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chứ nói gì đến việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam và công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này. Ngay cả trong Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc cũng thể hiện sự mập mờ trong việc đề cập đến chủ quyền đích thực của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vì ở điểm (4) của Tuyên bố này chỉ nói đến chiếm lại Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ mà không hề đề cập đến việc chiếm lại Tây Sa và Nam Sa (?!).
Theo điều kiện thứ ba của nguyên tắc etstoppel, về tính “liên tục” của Bức thư cũng không được đáp ứng. Không có bất kỳ minh chứng nào về việc sau bức thư của Thủ tướng VNDCCH năm 1958 thì Quốc hội VNDCCH hoặc cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ VNCH “tiếp tục” thể hiện quan điểm từ bỏ chủ quyền.
Theo điều kiện thứ tư của nguyên tắc estoppel, thì bức thư của Thủ tướng VNDCCH không hề gây thiệt hại gì cho phía Trung Quốc. Trung Quốc không hề bị thiệt hại mà còn được hưởng lợi, còn Việt Nam thì không những không có được lợi ích gì mà trái lại còn rơi vào thế bất lợi: nguy cơ bị mất chủ quyền lãnh thổ.
Do đó, xét một các khách quan và toàn diện, dựa trên những căn cứ pháp lý, lịch sử và chính trị, thì Bức thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ có mục đích nhằm ủng hộ Trung Quốc chống lại chính sách bao vây trên biển của Mỹ trong eo biển Đài Loan, đe dọa tới nền an ninh quốc gia của Trung Quốc vào thời kỳ đó, hoàn toàn không chứa đựng bất kỳ sự từ bỏ nào chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nội dung bức thư là một sự cam kết mang tính ngoại giao, một hình thức thường được các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ sử dụng để thể hiện sự đoàn kết về mặt tư tưởng với nhau.
Từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam cũng như công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trái lại, các chính quyền của Việt Nam từ trước đến nay đều nhất quán thể hiện lập trường khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng như thực hiện việc quản lý liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo này.
Như vậy, lập luận của phía Trung Quốc là không có căn cứ và giá trị pháp lý, trái với luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế cũng như thực tiễn quan hệ Việt - Trung vào thời điểm đó. Những ai đó mưu toan dùng nội dung bức thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng để biện minh cho ý đồ xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam sẽ bị phá sản dưới ánh sáng của luật pháp và công luận quốc tế.

------------
Bài 2: Công thư không chối bỏ chủ quyền và phải bị diễn giải một cách hạn chế
Bài 3: Những cứ liệu quý giá từ Báo Quân đội nhân dân



Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

BÀI ĐÁNG ĐỌC: KỸ SƯ "RÈN NGỰA THÁNH GIÓNG BIỂN ĐÔNG" NÓI VỀ QUÁI VẬT 981

BÀI ĐÁNG ĐỌC: KỸ SƯ "RÈN NGỰA THÁNH GIÓNG BIỂN ĐÔNG" NÓI VỀ QUÁI VẬT 981

NVM Blog - Những ngày này, khi sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa khiến "Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng" (thơ Nguyễn Việt Chiến), càng thấy được tầm nhìn xa và những nỗ lực của ngành công nghiệp tàu thuỷ là cần thiết biết bao để Tổ quốc vững mạnh từ biển cũng như càng căm ghét bao nhiêu những con sâu mọt đã tham nhũng rồi phá nát ước mơ vĩ đại ấy, càng khiến thềm lục địa, phân thân thể yếu mềm nhất của Tổ quốc thêm chông chênh, bất ổn. Nhưng cũng càng cảm phục những con người tiên phong, thầm lặng đóng góp cho ngành công nghiệp đóng tàu của ta. Ba năm trước, với sự nhìn nhận ấy, nhân kỷ niệm 50 năm huyền thoại đoàn tàu không số, trong khi giới truyền thông đổ xô đi tìm ca ngợi chiến công của những người lính Đoàn tàu không số (dĩ nhiên rồi - họ quá xứng đáng được tôn vinh), Nguyễn Văn Minh và  Nhà báo Nguyễn Ngọc Hưng đã lặng lẽ đi tìm những người góp sức, góp trí đóng lên những con tàu không số huyền thoại. Và dĩ nhiên, họ ở đâu đó trên đất nước này, ở các đơn vị thuộc Tập đoàn Vinashin (có người đã nghỉ hưu, có người còn làm việc). Năm ấy, Vinashin là "mắt bão" của dư luận, là nơi bị chửi rủa, phê phán nhiều nhất nên không ít người đã rất ngạc nhiên khi báo QĐND có những nhà báo lại đi ngược dòng thời sự chủ lưu, đi tìm câu chuyện mà nửa thế kỷ không ai hỏi đến. Khi đó, viết về Vinashin gần như một "nỗi nhục" với NVM bởi không ít đồng nghiệp nghĩ rằng "chắc ăn gì, kiếm được gì của Vinashin nên mới nâng bi" như vậy. Nhưng sự thật thì chúng tôi không ăn của ai và cũng chẳng cần nâng bi ai cả. Đối tượng cần ngợi ca chính là những người kỹ sư, công nhân lặng thầm đóng góp cho đất nước nên vì họ, chúng tôi làm mà thôi. Ngay cả Tập đoàn Vinashin cũng không biết chuyện có những người từng "rèn ngựa thánh Gióng biển Đông" nên khi NVM đặt vấn đề tìm hiểu để viết bài ban đầu họ cũng ngập ngừng. Song rất may là nhờ em - "mụ Phạm Hồng Trâm" - chuyên viên công tác tại Tập đoàn đã mạnh dạn đề cập với ông Nguyễn Ngọc Sự, tân Chủ tịch HĐTV khi đó, ông Sự đã tán thành và tạo điều kiện cho phóng viên báo QĐND tiếp cận, ghi lại câu chuyện về những con người làm nên lịch sử. 
Một trong những người có đóng góp lặng thầm ấy là kỹ sư tàu biển Đỗ Thái Bình. Trong bài đầu tiên của thiên ký sự 5 kỳ,  http://qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/ky-su-nhan-vat/ren-ngua-thanh-giong-cua-bien-dong-tiep-theo-va-het/162364.htmlNVM đã viết về ông như sau: "Đỗ Thái Bình là một kỹ sư tàu biển kỳ cựu, tốt nghiệp khoa vỏ tàu Trường Đại học Giao thông Vận tải từ năm 1966 và đã nghiên cứu trong lĩnh vực thiết kế tàu biển nhiều năm. Hiện đã nghỉ hưu, sống ở TP Hồ Chí Minh và chuyển sang kinh doanh nhưng ông vẫn rất quan tâm tới ngành công nghiệp đóng tàu, biên soạn, dịch nhiều cuốn sách có giá trị về tàu biển. Blog của ông khá dung dị và được lập từ năm 2005, lấy tên “Bình Biển”. Trong blog, ông nhiều lần nhắc tới tàu không số với một số bài viết, hình ảnh thú vị.Cách đây chừng hai tháng, trước khi ông Lương Văn Triết - một kỹ sư đóng tàu kỳ cựu qua đời, Đỗ Thái Bình đã có bài viết trên blog với tiêu đề “Lương Văn Triết - người thiết kế tàu không số”. Ông tâm sự: “Biết tin Lương Văn Triết bị đau bệnh nặng, tôi gọi điện về nhà anh, đường Âu Cơ, Hà Nội nhưng không ai bắt máy. Giờ này có lẽ chị Long - vợ anh cũng đang trong bệnh viện cùng anh giành giật những giây phút cuối cùng của sự sống. Một số các bậc tiền bối của ngành đóng tàu nước ta đã lần lượt ra đi như Nguyễn Hữu Tố, Hồ Quang Long, Lê Xuân Ôn... Biết rằng, đời người không tránh khỏi quy luật của tuổi tác và bệnh tật, sinh tử là lẽ thường, nhưng vào lúc này, những kỷ niệm về một trong những người thiết kế tàu thủy đầu tiên của nước nhà bắt tôi cầm bàn phím và hồi tưởng lại. Và có lẽ những ghi chép này có ích phần nào cho các bạn trẻ đang làm việc trong ngành công nghiệp biển của nước nhà”.
Lâu rồi, công việc cuồn cuộn trôi theo những dòng thời sự của việc làm báo, tôi cũng quên bẵng đi cái tên Đỗ Thái Bình. Thế rồi, sáng nay, trong những ngày này, biển Đông dậy sóng, khi tỉnh giấc lướt web, tôi sững sờ xúc động khi gặp lại những dòng ông viết trên trang cá nhân, viết về câu chuyện giàn khoan 981 - mà trong một bài trên blog gần đây, NVM gọi nó là "ác quỷ".
Thật xúc động, người kỹ sư già đầu bạc, dù không phải là nhà báo, nhà nghiên cứu nhưng vẫn trọn đời  yêu biển, yêu tàu, căm ghét sự xâm lược ngoại bang, ông đã có một bài viết rất đáng đọc
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của kỹ sư Đỗ Thái Bình….
Hạ thuỷ tàu Trường Sa -01, một trong lô nhiều con tàu đầu tiên VN đóng cho Trường Sa do Nhà máy đóng tàu Hạ Long thuộc Vinashin năm 1992

Ghi chép về giàn khoan 981


Câu hỏi về tàu thuyền này nọ được đặt ra vào lúc chúng ta ngày càng phải giải quyết nhiều vấn đề từ biển cả .Khi vụ ụ nổi 83M nổ ra,cuộc truy tìm ụ nổi có phải là tàu biển đã đặt ra gay gắt tới mức một bị can là cán bộ hải quan than thở là bị ép cung, phải trả lời ụ nổi là tàu biển !Chưa bao giờ những câu chuyện về biển cả,tàu thuyền đã xâm nhập vào các gia đình như bây giờ .Từ góc độ thuần túy kỹ thuật đóng tàu,chúng tôi muốn mời các bạn cùng tìm hiểu về cái giàn 981 ,một đối tượng học tập của các trường hiện nay tại các khoa “đóng tàu và các công trình nổi” tức là muốn nói tới các tàu thuyền và các công trình ngoài khơi (offshore structure)

1/Tên nào là đúng :HD 981 hay Haiyang 981 …?
 Muốn nói tới tên gọi,ta phải hiểu chủ sở hữu của nó là ai ,đó chính là CNOOC theo tên gọi tắt quốc tế của China National Offshore Oil Corporation tức Tổng công ty dầu khí Hải dương Quốc gia Trung Quốc mà  tên tiếng Trung là 中国海洋石油总公司; Zhōngguó Háiyáng Shíyóu Zǒnggōngsī,âm Hán Việt là Trung Quốc Hải dương Thạch du .
Các phương tiện của CNOOC đều được đặt tên theo quy tắc sau :
-Đi đầu là dòng chữ viết bằng tiếng Trung và phiên âm : 海洋石油 và Haiyang Shiyou để chỉ con tàu này thuộc Tổng Công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc ,(bởi vậy ta nên viết đủ tên hay viết tắt HYSY,không nên biến nó thành tên tiếng Việt như HD) ;
-theo sau là các chữ số với số đầu chỉ loại thiết bị  : ví dụ 1 –Các loại kho nổi  FPSO;2-Các tàu công trình ; 6-tàu công tác ; 7-tàu địa vật lý ; 9-giàn khoan .Con số thứ hai bổ sung thêm ,ví dụ sau số 9 là để chỉ giàn 4-giàn tự nâng ,8-nước sâu như giàn 981,982   .
Từ  đó ta có thể đọc tên  và hiểu ý nghĩa các con tàu và công trình ,ví dụ
- Các kho nổi FPSO như “HYSY 113,”HYSY117”
-tàu công trình định vị nước sâu “HYSY 289”,”HYSY 286”,tàu sà lan “HYSY 278” tàu đặt ống nước sâu “HYSY201”
- Tàu công tác nước sâu “HYSY 612”
-Tàu địa vật lý “HYSY 720”
-Giàn tự nâng “HYSY942”,”HYSY 943”
-Giàn nửa chìm “ HYSY 981” và đang chuẩn bị đóng chiếc thứ hai “HYSY 982”

2/Thế nào là giàn nửa chìm ?
Để thăm dò và khai thác dầu mỏ,người ta dùng nhiều công trình ngoài khơi (offshore unit) khác nhau như giàn cố định (fixed platform),tháp ưng thuận (compliant tower),giàn chân căng (tension-leg platform) ;giàn spar (spar platform) ; giàn nửa chìm (semi-submersible rig) như giàn Đại Hùng 01 ;giàn chân chống/giàn tự nâng (jack up-drilling rig ) ví như giàn Tam Đảo,Cửu Long của Vietsovpetro ...
Có nhiều kiểu công trình biển để thăm dò khai thác dầu ngoài khơi
Có nhiều kiểu công trình biển để thăm dò khai thác dầu ngoài khơi

So sánh các loại giàn ta thấy giàn khoan nửa chìm là công cụ cần thiết để thăm dò khai thác vùng nước sâu
Giàn nửa chỉm thích hợp khai thác vùng nước sâu
Giàn nửa chỉm thích hợp khai thác vùng nước sâu


Giàn nửa chìm có cấu trúc như hình vẽ :
giàn nửa chìm
giàn nửa chìm

Như hình vẽ ,ta thấy gọi là giàn nửa chìm vì nó nửa chìm nửa nổi trên mặt nước.Phần chìm dưới nước bao gồm những chiếc pông tông tức phao tạo lực nổi để đỡ phần thượng tầng bên trên .Thượng tầng lại tựa lên pông tông bằng các cột chống .Trên thượng tầng là nhiều tầng boong khác nhau ,bố trí các thiết bị để khoan thăm dò hay khai thác (giàn Đại Hùng 01 của ta là giàn khai thác ) ,tầng sinh hoạt ,tầng điều khiển ,điều khiển hàng hải...và nổi bật là tháp giá khoan derrick vươn lên cao.Pông tông không chỉ tạo sức nổi mà trong nó chứa nhiều trang thiết bị ,trong đó có thiết bị động lực để làm cho các chân vịt lái (thruster) hoạt động.Chân vịt lái này rất quan trọng,nó giúp cho giàn khoan đứng nguyên tại vị trí đã định bằng phương pháp định vị động học DP (dynamic positioning) .Bởi vậy ,giàn nửa chìm là công cụ không thể thiếu được trong việc chinh phục độ sâu khi khai thác dầu khí

3/ "Giấc mơ Trung Hoa " trên đại dương ?
Cách đây vài năm ,có một biên đội tàu Trung Quốc ghé vào cảng Sài Gòn chớp nhoáng,không nằm trong kế hoạch thăm hữu hảo hay "tuần tra chung".Đó là nhóm tàu đã thực hiện một cuộc hành quân xa trên đại dương,đi chống cướp biển tại vịnh Aden trở về .Với hải quân PLA (viết tắt hải quân nhân dân Trung Quốc) thì đó là một "kỳ tích" của một hải quân muốn từ "nước nâu" (brown) ra "nước xanh" (blue) đại dương,muốn "rửa hận" của thất bại thảm hại trong trận hải chiến Yalu năm Giáp Ngọ trước quân Nhật năm xưa ,muốn thực hiện kế hoạch của đô đốc Lưu Hoa Thanh (1916-2011) ngưới đã từ bỏ những luận lý chiến tranh Mao Trạch Đông mà lấy lý thuyết của nhà chiến lược hàng hải Mỹ Mahan làm "tổ sư"...Qua màn hình TV,toàn Trung Hoa nhìn thấy các tàu chuyển dầu ,tiếp liệu trên đại dương...một việc làm quá mới với hải quân này ,từng bước,từng bước một ,hải quân đã có thể sử dụng các tàu đổ bộ tối tân nhất (tàu đệm khí Zubr của Nga),tàu ngầm hạt nhân ...trong những cuộc tập trận phối hợp nhiều binh chủng...Để thực hiện "Giấc mơ Trung Hoa " bành trướng trên biển,cả một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực từ sử học,dân tộc học..tới các khoa học ứng dụng như âm thanh học đại dương,khảo cổ hàng hải...được huy động để thức tỉnh tinh thần dân tộc với hàng loạt bảo tàng hàng hải,hải quân ,với vô vàn tạp chí phổ cập,phim ảnh ...Chắc chúng ta không quên bộ phim nhiều tập,tốn hàng chục triệu đô la "Quốc gia quật cường " được chiếu cả trên Discovery để giải thích cho trong nước và thế giới quyết tầm tiến ra đại dương của nước này .Tôi đã có dịp đứng trước Bảo tàng Hàng hải Quốc gia của Trung Quốc tại Thượng Hải lúc nó còn đang ngổn ngang xây dựng mặc dù đã có nhiều bảo tàng tầm thế giới tại Tuyền Châu  (Phúc Kiến),Trịnh Hòa (Vân Nam, Nam Kinh...) để có cảm giác họ không tiếc tiền của công sức ,cố bơm vào đầu dân chúng những khát vọng đại dương-ngoài các giờ giảng trên ghế nhà trường-trong đó thật sự đã coi biển Đông mà họ gọi là biển Nam Trung Hoa là "Địa Trung Hải "biển nhà của họ !Trong toàn bộ chiến lược biển đó ,dầu khí tất nhiên là một lãnh vực họ không tiếc công sức đầu tư.Mặc dù đã có nhiều chuyên gia về nước sâu trong đó phải kể tới Chu Kế Mậu ,tổng công trình sư thiết kế cái Giao Long,hay một đội ngũ đông đảo các chuyên gia về tàu ngầm,chinh phục dầu khí nước sâu vẫn phải trông cậy vào phương Tây ,vừa mua làm nhái theo ,vừa ăn cắp bí quyết ...Bằng việc mua lại công ty Nexen Canada với giá 15,8 tỷ đô la,CNOOC đã giành được những bí quyết thăm dò,khai thác dầu khí vùng nước sâu mà họ rất thèm muốn .CNOOC cải tổ nhanh chóng từ khâu tổ chức,quản lý tới các giai đoạn công nghệ cụ thể để có thể gia nhập vào hàng ngũ những tập đoàn khai thác dầu khí hàng đầu .Ai cũng biết Nexen là một tên tuổi chuyên khai thác dầu khí tại Biển Bắc Anh,Tây Phi,Hoa Kỳ và bờ Tây Canada. Và để thiết kế giàn nửa chìm hoạt động nước sâu,CNOOC đã phải mua thiết kế cơ bản của công ty Friede &Golman lừng danh có trụ sở tại Houston Texas Hoa Kỳ.Với công ty này ,CNOOC đã có mối thâm giao nếu ta biết rằng chủ tịch và CEO hiện của Friede &Goldman (viết tắt là FG) tên là Paul Geiger đã có giai đoạn làm việc như một kỹ sư trưởng tại CNOOC Trung Quốc từ các năm 1982-1990 (ngay khi CNOOC vừa mới được thành lập vào 1982 !) ,rằng hàng loạt kỹ sư các loại của Trung Quốc đã sang làm việc tại FG Houston từ hàng chục năm nay,rằng Geiger là một tên  tuổi lớn ,người chủ trì và viết chương Giàn Khoan trong bộ sách Công Nghệ  Đóng Tàu nổi tiếng do Thomas Lamb và SNAME xuất bản,cuốn sách mà các trường Việt Nam hiện đang cố gắng đọc và học hỏi .....Chỉ cần vào trang chủ của FG ,các bạn có thể tìm thấy cái thiết kế giàn nửa chìm có ký hiệu ExD ,một thiết kế "tâm huyết",một sản phẩm kiêu hãnh của FG đã được thực thi tại Trung Quốc với cái tên giàn nửa chìm "Haiyang Shiyou 981"

4/Thiết kế và đóng giàn 981 

Cách đây vừa tròn hai năm,vào tháng năm 2012,một số báo chí của ta bắt đầu nói tới cái gọi là  "Ocean Oil 981" ,tôi đã có một note trên FB giới thiệu chi tiết kỹ thuật về cái giàn này .Lúc đó nó đã thành cái "Haiyang Shiyou 981 " với các số định dạng IMO là 9480344 ,số MMSI để dùng hệ vệ tinh toàn cầu GMDSS là 413464330,hô hiệu viễn thông theo quy định của ITU  là   BYDG. Tôi cũng giới thiệu các trang vesselfinder để mọi người có thể dùng màn hình máy tính theo dõi tọa độ bằng AIS và vệ tinh, thấy giàn khoan khổng lồ này đang di chuyển từ nhà máy Ngoại Cao Kiều Thượng Hải về phía Nam ,đã  tới đảo Hải Nam.Rồi nó tới lô khai thác Liwan ! Thực ra ,trước đó 6 năm vào tháng 11/2006 trên các tạp chí hàng hải toàn cầu đã thông báo một sự kiện to lớn:CNOOC ký với FG một hợp đồng trị giá 4,6 tỷ NDT (thực tế giá thành công bố là 6 tỷ NDT) để Trung Quốc chế tạo chiếc giàn khoan nửa chìm nước sâu đầu tiên của nước này ,với quy định hai bên cùng giữ sở hữu trí tuệ và khu vực hoạt động của giàn là Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông),Vịnh Mehico và Nam Phi.
Cùng sở hữu trí tuệ vì FG cung cấp thiết kế cơ bản (basic) của một sản phẩm cũng rất mới đối với họ,một giàn nửa chìm thế hệ mới ,thế hệ thứ 6 với một số đặc điểm như sau :
-Khả năng chống mệt mỏi (fatigue) -một căn bệnh suy sụp của nhiều giàn khoan ,trước tác động của thiên nhiên .Giàn này được thiết kế chịu được những cơn bão khủng khiếp nhất thống kê trong 200 năm lịch sử tại vùng Biển Đông.
-Khả năng định vị trên biển.Nếu giàn Đại Hùng 01 của ta giữ vị trí trên biển bằng hệ thống 8 neo thì 981 tại các vùng nước sâu dưới 1000 mét vẫn định vị bằng 12 neo cấp R5 nhưng giàn chủ yếu định vị bằng hệ định động học cấp 3 là cấp cao nhất của hệ thống này với 8 chân vịt lái (thruster),mỗi chân vịt được kéo bởi động cơ 4600 CV
-Khả năng chống tràn dầu .Kinh nghiệm đau đớn của các vụ tràn dầu khiến cho FG tìm mọi biện pháp để ngăn chặn ngay từ giai đoạn đầu tiên .Một hệ thống cảm biến được thiết lập quanh giàn và hành động nhanh chóng để đóng ngay cái BOP (thiết bị chống tràn -Blow Out Preventer)
Paul Geiger bên cạnh một giàn khoan đóng tại Jurong Singapore
Paul Geiger bên cạnh một giàn khoan đóng tại Jurong Singapore
Thiết kế cơ bản định như vậy nhưng đi vào cụ thể ,giàn khoan nửa chìm này được chế tạo dựa trên sự huy động tổng lực của Trung Quốc với rất nhiều đơn vị có thể kể ra như Viện 708 của CSSC, Viện Nghiên cứu Thiết kế của CNOOC,Đại học Đại Liên,Đại học Giao thông Thượng Hải,xưởng đóng tàu Ngoại Cao Kiều,xưởng Đại Liên ...Họ nói rằng đây là một công trình giàn nửa chìm ,độ sâu 3 nghìn mét "hoàn toàn tự nghiên cứu,thiết kế,chế tạo,lắp đặt ,thử nghiệm ...nhưng cũng cho biết là theo mẫu chung ExD của Công ty F&D Hoa Kỳ " (!) nhưng tìm hiểu kỹ ta sẽ thấy tất cả các thiết bị -cái quyết định mang tính sinh tử của giàn khoan -là do nước ngoài chế tạo,một điểm yếu rất căn bản của đóng tàu Trung Quốc ! Chính họ phải thừa nhận :TQ chỉ có 40% giàn khoan này còn 60% giàn khoan là của thế giớ với những tên tuổi lừng danhy như ABB,Aker,Haliburton,Siemens ...Nhiề utrang mạng của họ biểu dương tinh thần ái quốc trong việc chế tạo giàn,chẳng hạn vào YouTube ,các bạn sẽ thấy cảnh đóng thân giàn tại xưởng Ngoại Cao Kiều trên đảo Sùng Chính Thượng Hải, đoạn clip mô tả công nhân nhà máy xích neo tại Giang Tô nô nức rèn xích cho neo của giàn ...Các nhà máy này thuộc tập đoàn CSSC (nói cho đơn giản ,kiều như Vinashin của ta) làm cả tàu quân sự lẫn dân sự ,giàn khoan không chia nhỏ như nước ta !
Đây là giàn khoan nửa chìm,tức là sức nổi được đảm bảo bằng các pông tông ngầm dưới nước .Đặc tính kỹ thuật  chủ yếu như sau:Dài 114 mét,rộng 90 mét, chiếu cao từ chân tới đỉnh 130 mét bằng chiều cao tòa nhà 40 tầng ,tổng trọng lượng 3 vạn tấn ,tổng số đường điện đã dùng là 900 km.Giàn sử dụng 8 tổ máy phát điện ,công suất mỗi tổ 5530 CV.Pông tông chìm dưới nước có đặc tính :dài 114 mét,rộng 20,12 mét, cao 8,54 mét .Giàn chính thức đi vào hoạt động ngày 26/02/2010
. Có tổng cộng 167 người làm việc cho giàn khoan bao gồm 160 người làm việc ngoài khơi và 7 người làm việc trên bờ. Giàn trang bị 6 xuống cứu sinh xuyên lửa tự phóng nhãn hiệu Hatecke (cũng là nhãn của xuồng trên nhiều tàu VN ví dụ ngoài DK 1 hay tàu CSB 8001) ,mỗi xuồng cho 70 người và 8 bè cứu sinh bơm hơi mỗi bè cho 25 người

5/Chuyến đi về phương Nam 
Như đã nói ở trên,giàn 981 bắt đầu chính thức đi vào hoạt  động ngày 26/02/2010 với hàng nghìn cuộc thử nghiệm tại Thượng Hải .Một năm sau,vào 26/5/2011 nó di chuyển xuống phía Nam thử khoan thăm dò tại mỏ Liwan /Lychee 6-1 nằm cách Hongkong 320 km về phía Đông Nam  .Trên các trang mạng TQ ,họ đề khoe cuộc tập dượt này .Hàng ngày đội ngũ trên 100 người phải hội họp thường xuyên ,ngôn ngữ sử dụng trên giàn,trong hội họp và văn bản là hai thứ tiếng Anh và Trung . Rồi cũng vào tháng 5 ba năm sau đó ,ngày 2/05/2014 nó có mặt tại tọa độ 15.48865 B / 111.20325 Đ ,ngay trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam .Có thể theo dõi toàn bộ các cuộc di chuyển của nó trên màn hình máy tính và vesselfinder .
 Cuộc tấn công chinh phục nước sâu tại Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa) của CNOOC vẫn đang tiếp tục .Chiếc giàn thứ hai tương tự như 981 -có cải tiến,rút kinh nghiệm-mang tên 982 sẽ được bàn giao cho CNOOC vào 8/2016 ,lần này không do CSSC đóng mà chuyển cho tập đoàn đóng tàu thứ hai của TQ,đó là CSIC.Ngoài ra còn có các giàn tự nâng 943 và 944 cũng sẽ được bàn giao vào 09/2015.Tất cả đều dùng thiết kế basic của FG và vùng hoạt động của nó được ghi rõ ngay từ thiết kế sơ bộ ,đó là vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)

KIỆN TRUNG QUỐC - LÀM GÌ TRƯỚC ĐỂ CHẮC THẮNG? Bài 1: LỖ HỔNG CÔNG PHÁP QUỐC TẾ VÀ BA TÌNH HUỐNG CÓ THỂ XẢY RA

KIỆN TRUNG QUỐC - LÀM GÌ TRƯỚC ĐỂ CHẮC THẮNG?
Bài 1: LỖ HỔNG CÔNG PHÁP QUỐC TẾ VÀ BA TÌNH HUỐNG CÓ THỂ XẢY RA
NVMFB - Những ngày gần đây, không ít người vì tình yêu Tổ quốc và căm giận sự xâm phạm chủ quyền đã "dữ dội" đặt câu hỏi vì sao không kiện ngay TQ ra toà án quốc tế đi! Phải chăng Đảng, Nhà nước chậm trễ vì "lệ thuộc" TQ? Tại sao chính nghĩa thuộc về ta mà ta không kiện (chưa kiện)?
Với tình yêu Tổ quốc, NVM cho rằng, giờ là lúc không cần thiết tranh cãi nhau hay chỉ trích những vấn đề lịch sử để lại; cũng không nên "cãi cùn", cãi lấy được trong câu chuyện bảo vệ chủ quyền. Xử lý vấn đề với TQ hiện nay, cách tốt nhất và thông minh nhất là cùng với tinh thần đại đoàn kết dân tộc, có một bước nhảy vọt trong lao động, phát triển kinh tế, chăm lo đối ngoại và quốc phòng thì phải cùng nhau "hiến kế" xử lý vấn đề trên cơ sở kiến thức và luật pháp quốc tế. Có cảm giác rằng, một số phát biểu, thậm chí một số bài báo xung quanh chủ đề này trên báo chí vừa qua chưa đạt yêu cầu, thậm chí có chỗ phản tác dụng. Với tinh thần đó, từ góc độ nhìn nhận cá nhân và những nghiên cứu của mình, NVM xin đưa ra một số vấn đề sau:

Loại trừ những thành phần đầu đất mà sự phản động có thừa như Phạm Văn Điệp và một số phần tử khác không có cả cái đầu lẫn trái tim để đủ hiểu sự việc nên NVM không chấp; còn để xử lý vấn đề này, hơn lúc nào hết chúng ta vẫn phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh. Vì những lý do sau đây:
Trong xử lý vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông; có rất nhiều phương pháp, biện pháp. Ngay trong các biên pháp hoà bình cũng đã bao gồm rất nhiều các biện pháp rồi và kiện ra toà án quốc tế chỉ là một trong những biện pháp. Nhưng với một đất nước ngang ngược, ngông cuồng và đang trên thế nước lớn để "lấy thịt đè người" như Trung Quốc thì có thể đặt ra 3 tình huống:
Một là, ngay cả khi toà án tuyên phía VN thắng kiện, TQ cũng sẽ không đếm xỉa gì đến việc thực thi. Nhưng cái lợi, cái được rất lớn trong tình huống này là dư luận quốc tế sẽ hiểu hơn sự việc và thêm ủng hộ VN, phía TQ thêm bị cô lập và phần nào suy giảm ý chí xâm lược, thôn tính biển đảo của nước khác.
Hai là, phía TQ sẽ né tránh không tham gia vụ kiện vì nó sẽ có nhiều bất lợi cho TQ. Đây là tình huống khả dĩ nhất và với vụ kiện của Phi-li-pin, TQ đang hành xử theo hướng này. Theo Tiến sĩ vật lý Dương Danh Hy Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, hiện sống tại Anh và đã có nhiều năm nghiên cứu về tranh chấp biển Đông, hiện là thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông thì hiện nay, Trung Quốc chưa chấp nhận trực tiếp hay gián tiếp cho bất cứ tòa nào thẩm quyền để công nhận Hoàng Sa là của nước nào. Điều này có nghĩa chúng ta chưa kiện về chủ quyền đảo được. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã dùng Điều 298 của UNCLOS để tránh không cho trọng tài UNCLOS thẩm quyền để phân xử một số loại tranh chấp biển. Điều này làm cho trọng tài UNCLOS không có thẩm quyền để công nhận giàn khoan Hải Dương-981 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước nào. Hai điều này làm cho khó đơn phương kiện Trung Quốc.
Như vậy, tình huống TQ né tránh giống như hai vợ chồng ly hôn nhưng một người chẳng chịu ra toà, dây dưa thì sự việc sẽ còn kéo dài.
Ba là, trường hợp VN thua kiện. Nói điều này, chắc rằng nhiều người sẽ rất "chim cú" và quy kết NVM là "phản động" nhưng mong mọi người hãy bình tĩnh, vì đây là các giả thiết có thể xảy ra và với tinh thần "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng" chúng ta hoàn toàn phải đặt các giả thiết này. Hồi học trong các nhà trường quân sự, chúng tôi luôn có một phương pháp rõ ràng là dự kiến tình huống và cách xử trí trong mỗi trận đánh và trong những tình huống đó, không bao giờ thiếu tình huống thất bại, kể cả tình huống bị địch bao vây, người chỉ huy cao nhất hi sinh…Ở đây cũng vậy, mặc dù chính nghĩa thuộc về chúng ta, đất đai biển đảo cha ông ta để lại hàng nghìn đời, sự hiện diện của người Việt khẳng định chủ quyền đã thể hiện qua nhiều thư tịch cổ và trong tác phẩm gần hơn là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, chỉ cần một cú gọi cụ gu gồ là các bạn đã thấy cụ Lê Quý Đôn bàn về "Bãi cát vàng", gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa cùng những đội quân dược triều đình cử đi khai thác, khai thác gì, trên đảo có gì…Tuy nhiên, với âm mưu độc chiếm Biển Đông, phía Trung Quốc từ năm 1909 đến nay đã đưa ra nhiều chiêu bài lắt léo, tạo dựng nhiều chứng cứ nguỵ tạo cùng nhiều đối sách thâm độc để âm ưu chiếm đoạt. Và công pháp quốc tế, hệ thống pháp luật về biển của quốc tế tuy đã có đấy nhưng vô cùng phức tạp, rắc rối, nhiều điểm chưa hoàn thiện, nhiều chỗ "muốn hiểu thế nào cũng được, muốn áp dụng thế nào cũng được" nên tình huống VN bị thua kiện không phải là không có thể xảy ra. 


Để minh chứng cho điều này, chúng tôi xin được trích một đoạn trong cuốn sách “Việt Nam – Đất, biển, trời” của chuyên gia luật biên giới, nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng viết về vấn đề xử lý tranh chấp biển đảo. Cuốn sách đã được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã cho rằng ông là một luật gia “nắm vững vấn đề” thực hiện cuốn sách với “bao tâm huyết, nó xứng đáng có vị trí trong số những sách mà cán bộ ta cần nghiên cứu”. Trong cuốn sách này, khi bàn về luật biển và những vấn đề liên quan biển, đảo, thềm lục địa, chuyên gia Lưu Văn Lợi viết: “Công ước về Luật Biển năm 1982 đã có định nghĩa rõ ràng về thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và những quy định rõ ràng về nghĩa vụ và quyền của các nước ven biển liên quan đến thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế. Tiếc rằng, về việc phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, Công ước chỉ nói chung chung là các nước hữu quan qua con đường thương lượng, cùng nhau thoả thuận một “giải pháp công bằng” và cũng không nói thế nào là giải pháp công bằng và cần làm gì để đi tới một giải pháp công bằng…”.
PGS, TS Nguyễn Hồng Thao, hiện là Đại sứ Việt Nam ở Ma-lai-xi-a, nguyên Phó trưởng ban biên giới Chính phủ, một chuyên gia nghiên cứu và từng đoạt giải thưởng quốc tế về công trình nghiên cứu tranh chấp trên biển Đông cũng cho biết: “Do sự khác biệt về tương quan lực lượng, phạm vi yêu sách, e ngại dư luận trong nước, khả năng rủi ro chính trị nên các Chính phủ khó có thể đồng thuận để đưa tranh chấp Trường Sa ra trước Tòa án quốc tế. Chỉ một nước không đồng thuận, Tòa án sẽ không có thẩm quyền. Hiện tại, mới chỉ có Philippines công nhận quyền tài phán bắt buộc của Tòa nhưng lại bảo lưu không áp dụng cho các tranh chấp liên quan đến KIG, tức quần đảo Trường Sa. Khả năng đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trước Tòa án quốc tế có thể đơn giản hơn nếu xét ở mức độ chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc nhưng sẽ khó hơn nhiều vì Trung Quốc đang quản lý toàn bộ quần đảo này và không muốn bàn đến ngay cả trong cơ chế đàm phán trên biển giữa hai nước có từ năm 1996. Tình hình cũng tương tự đối với các cơ chế tài phán quốc tế khác như Tòa án Trọng tài Luật biển quốc tế….”. Ông Thao cũng cho biết: “Công ước Luật biển 1982 không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về đá dẫn tới những giải thích khác nhau về quy chế đảo đá. Kích thước, chu vi, chiều cao như thế nào để được coi là đảo hay đá? Thế nào là đá thích hợp cho con người đến ở?
Biển Đông đã được biết đến như một trung tâm tranh chấp của thế giới về mức độ phức tạp, số lượng các bên tranh chấp và sự quan tâm lợi ích của các cường quốc. Hoàng Sa trên thực tế là tranh chấp ba bên giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Trường Sa là nơi tranh chấp của Brunei, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan. Tranh chấp trên Biển Đông bao gồm tranh chấp chủ quyền đảo và tranh chấp vùng biển. Bốn trở ngại lớn nhất cho mọi giải pháp là vấn đề chủ quyền, đường đứt khúc 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò), quy chế đảo và chủ nghĩa dân tộc. Giải quyết các trở ngại trên phải căn cứ vào luật biển và thiện chí của các quốc gia. Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 mới chỉ là một văn kiện chung nên còn nhiều vấn đề như quy chế đảo, hệ thống các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp cần được hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình khu vực. Nếu luật biển còn chưa rõ ràng thì các nước phải tiếp tục thỏa thuận”.
Từ những lập luận trên cho thấy rằng, việc kiện TQ ra toà án quốc tế là cần thiết nhưng không đơn giản, cần phải có sự chuẩn bị kỹ. Xin được dẫn thêm, vẫn là ý kiến của PGS Nguyễn Hồng Thao, để chiến thắng trong cuộc “chiến đấu này”, “bên cạnh đào tạo chiều rộng, theo tôi, cần quan tâm đào tạo chiều sâu; cần sớm có kế hoạch đưa được người Việt vào các hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế, các Tòa trọng tài quốc tế, cơ quan quyền lực đáy đại dương, Ủy ban ranh giới thềm lục địa...”.
Hiện chưa rõ thống kế VN có bao nhiêu chuyên gia về lĩnh vực này nhưng chúng tôi được biết, Trung Quốc từ lâu đã đào tạo cả đội ngũ bài bản và có người của họ trong nhiều cơ quan quan trọng nêu trên.
Trong những phần tiếp theo, NVM sẽ phân tích đến những khía cạnh pháp lý nào cần tập trung trước để VN giành chiến thắng, từng bước khẳng định lẽ phải, công lý và sự thật…
Lưu ý: NVM giữ bản quyền, mọi sao chép, đăng tải lại phải được sự đồng ý của NVM.
ảnh:
- Trường Sa những ngày đầu giải phóng, tháng 5 năm 1975 do nhà báo Nguyễn Khắc Xuể, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân chụp lại
- Trường Sa tháng 5-2014 do NVM chụp

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Điều ít biết về CHÂN DUNG TỔ QUỐC Kỳ 1: LÃNH THỔ VIỆT NAM TỪNG KÉO DÀI TỚI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC)



Điều ít biết về CHÂN DUNG TỔ QUỐC
Kỳ 1: LÃNH THỔ VIỆT NAM TỪNG KÉO DÀI TỚI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC)
         NVM BLOG - Đó là sự thật 100%. Chiều nay, trong cơn đau khi nằm trên giường bệnh, trong khi Giang Mèo mải đi nhậu nhẹt chơi bời thì NVM dù trọng bệnh vẫn miệt mài đọc sách và đã tìm ra điều đó trong một cuốn sách quý, cuốn “Việt Nam – đất, biển, trời” của Nhà báo, luật gia Lưu Văn Lợi, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ. Ông cũng từng là thư ký toà soạn Báo Quân đội nhân dân năm 1951.
Luật gia, chuyên gia về biên giới Lưu Văn Lợi (ảnh: Tuổi trẻ)

         Cuốn sách nhỏ được NXB Công an Nhân dân ấn hành năm 1990, cách đây đã 24 năm nhưng đọc lên còn nóng hổi tính thời sự, vẫn là những việc cần hiểu, cần làm vì kế sách giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ liêng thiêng của Tổ quốc. Dù năm đó, cuốn sách còn mở ngoặc đơn “Lưu hành nội bộ” nhưng được biết gần đây, nó đã được NXB Thanh niên ấn hành rộng rãi. Xuân Canh Ngọ năm ấy, khi viết lời tựa cho cuốn sách, ông Lưu Văn Lợi nói rằng, ông muốn “phác hoạ chân dung Tổ quốc”, giới thiệu những vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của nước ta, đồng thời ông dự báo “Những điều đối với nước ta còn là chuyện của ngày mai thì hiện nay thực tế đang diễn ra tại nhiều nước khác. Chiều hướng phát triển của khoa học kỹ thuật và pháp luật quốc tế là không thể cưỡng lại được”.
Bìa cuốn sách "Viêt Nam - đất, biển, trời"
         Đọc cuốn sách, không khỏi không kinh ngạc bởi tầm nhìn xa, sự thông tuệ và mẫn cảm của một chuyên gia về biên giới, một con người tâm huyết tuyệt vời đã để lại cho chúng ta một kho báu từ cuốn sách nhỏ. Có những điều mà không đọc sách, ta không biết được hình hài Tổ quốc từng như thế nào? Ví như chuyện dưới đây:
1/ LÃNH THỔ VIỆT – TRUNG TỪNG ĐẾN TẬN TỈNH QUẢNG ĐÔNG, NƠI “PHÂN MAO CỎ RẼ”
Ở trang 18 của cuốn sách, ông Lưu Văn Lợi viết: “Sách xưa của Trung Quốc thường nói biên giới Việt Nam và Trung Quốc ở núi Phân Mao (tức núi Cỏ Rẽ: Trên đất Việt Nam thì cỏ ngả về Việt Nam, trên đất Trung Quốc thì cỏ ngả về Trung Quốc). Các cụ ta ngày xưa cũng thường nói: “Bắc Nam bờ cõi “phân mao”. Cũng theo sách Trung Quốc, Phân Mao Lĩnh nằm ở phía tây huyện Phòng Thành (Khâm Châu, tỉnh Quảng Đông). Tương truyền Mã Viện, sau khi dẹp xong Giao Chỉ đã dựng một cột đồng ở núi Phân Mao vùng đông Cổ Sâm. Cột đồng có thật hay không, điều này chưa rõ nhưng có núi Phân Mao ở có động Cổ Sâm. Trong số 6 châu mà Mạc Đăng Dung đã nộp cho nhà Minh khi cướp ngôi nhà Lê, có châu Cổ Sâm. Như vậy, ngày nay cả núi Phân Mao, cả Cổ Sâm đều nằm trên lãnh thổ Trung Quốc”.
Sự thật này gần đây đã được nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc xác nhận qua bài báo “Miếu thờ Trưng Vương trên đất Hồ Nam” đăng trên báo Hà Nội Mới
Trên đất Trung Quốc mà lại có đền thờ Bà Trưng ? Lạ, nhưng có thật. Vì nguồn thông tin này do hai nho sỹ Việt Nam từng đi sứ sang Trung Quốc, từng nhìn thấy ngôi đền và ghi chép lại trong thơ văn của họ. Đó là Nguyễn Thực và Ngô Thì Nhậm.

Nguyễn Thực (1554 - 1637) người làng Vân Điềm (tên nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595). Nguyễn Thực là vị quan thanh liêm, chính trực, được người đương thời trọng vọng. Trong thời gian được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông có làm một số thơ, nhưng sau đó bị thất lạc. Tới thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn sưu tầm được 10 bài, trong đó có 4 bài làm trong thời gian đi sứ. Trong 4 bài này, có một bài cho biết là ở Trung Quốc, phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh có đền thờ Trưng vương. Đó là bài Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh (về Nam đến rặng núi Ngũ Lĩnh):
Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi
    Dịch:
Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày

Tác giả viết bài này khi về tới dãy núi Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc, tức dãy núi làm ranh giới hai nước Sở, Việt thời cổ. Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam (phía Nam hồ Động Đình) và Việt là khu vực tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Về tứ thì đây là bài thơ đẹp một cách hồn hậu. Có thể, khi đó là cuối mùa đông nhưng gió xuân đã thổi nên tùng bách vẫn xanh um, mà một bông hoa mai trắng đã nở chào mùa xuân mới đang tới.


Song, chúng tôi lại lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 - Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43. Cột đồng là muốn nhắc lại việc Mã Viện cướp các trống đồng đất Việt, đúc thành cột dựng ở một số nơi để ghi chiến công (cũng như đem về Trường An đúc ngựa đồng đặt ở cung vua). Còn dấu cũ Trưng Vương, hẳn là dùng để chỉ ngôi đền đã được dựng lên để thờ vị nữ anh hùng của dân Việt. Nói rằng đó là ngôi đền thờ bà Trưng vì còn một chứng cứ nữa. Đó là điều mà hai thế kỷ sau Ngô Thì Nhậm có dịp nhắc lại khi ông đi sứ.

Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) quê ở Tả Thanh Oai (tên nôm là làng Tó) nay thuộc huyện Thanh Trì. Năm 1793, ông có đi sứ nhà Thanh, có sáng tác tập Hoàng Hoa đồ phả - một tập thơ có cả những bức vẽ. Trong tập đó có một bài nhan đề Phân Mao lĩnh (Núi Phân Mao):
Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao
Hoàng Mao dịch lộ nhậnPhân Mao
Thiên thư bất tận Hành Sơn Lĩnh
Địa khí hoàng phù Nhạn Trạch Mao
Trưng Trắc kiếm mang khai động phủ
Uy đà quế đố lạc sơn sào
Phong lai giải uấn tay nam lợi
Vị ứng Hùng Bi vạn nhận cao
Nghĩa là:
Một dải núi xanh ở nơi giáp giới với Sở và Việt
Trên đường đến trạm Hoàng Mai nhận ra đó là núi Phân Mao
(Ranh giới của Trung Hoa là do) Sách trời định ra không quá núi Hành Sơn (1)
Khí đất làm trôi ngược lông chim nhạn ở Nhạn Trạch (về phía nam)
Lưỡi kiếm của bà Trưng mở ra động phủ
Sâu quế của Triệu Đà còn đầy trong hang núi
Gió từ tây nam làm nguôi cơn nồng
Coi thường núi Hùng Bi dù cao tới muôn sải (2)
Ngô Thì Nhậm có lời chú thích rằng: "Núi Phân Mao ở địa giới Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, có cỏ mao rẽ hai ngả Nam Bắc, trên đường đi có biển đề Phân Mao lĩnh".
Như vậy thì núi này là chỗ ranh giới hai nước Sở, Việt. Như đã nêu ở trên, Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực hai tỉnh Lưỡng Quảng ngày nay. Và vậy là, theo bài thơ này, tại Hồ Nam có đền thờ bà Trưng Trắc.
Không rõ về sự kiện này thì Ngô Thì Nhậm rút từ tư liệu nào? Chính sử Việt Nam và Trung Quốc không có ghi chép gì về sự kiện đó. Có thể đó chỉ là truyền thuyết ? Nhưng cơ sở để hình thành truyền thuyết này thì có thể giải thích được. Các sách chính sử có ghi là sau khi Mã Viện hoàn thành công việc xâm lăng đã bắt trên 300 cừ suý (có thể hiểu là "tướng lĩnh cừ khôi") người Việt đưa về Trung Quốc, an trí tại Linh Lăng. Linh Lăng chính là phần đất phía Nam tỉnh Hồ Nam. Số ba trăm cừ suý đó, tất phải là các thủ lĩnh nghĩa quân, tướng lĩnh của Hai Bà và các lạc hầu, lạc tướng, đã kiên quyết chống lại quân Mã Viện. Những người dân Việt yêu nước này, tuy bị đầy ải xa quê hương nhưng vẫn hướng về đất Tổ, lập "miếu Bà Trắc" để tưởng nhớ thủ lĩnh của mình, thể hiện ý chí bất khuất của người Việt. Những câu chuyện về cuộc khởi nghĩa kháng chiến ngày đó tất cũng được lưu truyền trong cộng đồng đó, nhưng rồi trải qua bao đời, chuyện bị "khúc xạ", trở thành truyền thuyết Hai Bà Trưng đánh Mã Viện trên đất Hồ Nam.
Miếu Bà Trắc ở bên hồ Động Đình đúng là biểu tượng hiên ngang bất khuất của người Việt thời Hai Bà Trưng, dù bị tách khỏi quê hương. Còn về cột đồng được nhắc tới trong thơ Nguyễn Thực thì có thể hiểu là Mã Viện sau khi an trí các cừ suý Việt ở Linh Lăng thuộc Hồ Nam, Ngũ Lĩnh thì cho dựng một (hoặc nhiều) cột đồng để tự biểu dương chiến công. Nhưng các cừ suý Việt đã xây ngay đền thờ Hai Bà ở chỗ có cột đồng nọ để khẳng định bản lĩnh của cộng đồng mình.
Dù sao, "Miếu thờ Trưng Vương" ở đất Hồ Nam là có thật”
Kỳ 2: Núi Phân Mao, động Cổ Sâm nay ở đâu (bài của Trần Việt Bắc)
KỲ 3: Việt Nam từng nhiều lần đòi được đất từ Trung Quốc
P/S: NVM Blog giữ bản quyền bài viết này, mọi sự đăng tải lại phải được sự đồng ý của NVM