Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Những nhà báo đầu tiên ra Trường Sa Kỳ 2: Trường Sa “thưở ban đầu”

Những nhà báo đầu tiên ra Trường Sa
                        Kỳ 2: Trường Sa “thưở ban đầu”
                        Ký sự của  NGUYÊN MINH – TRƯỜNG GIANG
         Ông đã may mắn chụp được 14 cuộn phim, ghi lại hình ảnh Trường Sa với chim chóc, cỏ cây và bộ đội chiến đấu, huấn luyện trong những ngày đầu giải phóng. “Cứ ảnh nào đen trắng mà toàn bộ đội đội mũ cứng, mang trang phục bộ binh là “lớp ảnh thứ nhất” về Trường Sa do tôi chụp” – ông Nguyễn Khắc Xuể “bật mí”
         “Ba lớp ảnh” của những ngày đầu
Bất ngờ, đến cuối buổi chiều, từ đường chân trời bỗng hiện ra hai bóng đen nho nhỏ, rồi to dần, to dần.
- Tàu về! Tàu về! Tiếng ai đó hét lên.
Mọi người đổ xô ra bờ biển. Thực hay mơ đây. Đúng là hai chiếc tàu đã “lò dò” dắt nhau trở về sau khi cũng bị chết máy đã sửa được máy và thoát qua dông bão.
Đêm hôm ấy, họ ngủ ngon như chưa bao giờ được ngủ và mờ sáng hôm sau, lại tiếp tục lên đường. Lần này, có thêm một chiếc tàu của đoàn 125 hải quân là tàu chỉ huy, dẫn đường cho cả đoàn.
Tiếp tục cưỡi nhiều đêm sóng dữ, tàu đã tới quần đảo Trường Sa, dừng chân điểm đảo đầu tiên là Song Tử Tây, cũng là hòn đảo đầu tiên được giải phóng rạng sáng ngày 14-4. Sau Song Tử Tây, đoàn tiếp tục hành trình tới Nam Yết, An Bang, Trường Sa Lớn…và cuối cùng là Sơn Ca – cũng là hòn đảo sau cùng được giải phóng vào ngày 29-4.
Với nhiệm vụ của một phóng viên ảnh, Khắc Xuể miệt mài bắt tay vào công việc. Ông cho hay, những bức ảnh chụp ở Song Tử Tây là khá nhất, tốt nhất với nhiều hình ảnh sinh động như: Bộ đội thao tác bắn cối 60, phất cờ giải phóng… đã trở thành những hình ảnh biểu tượng của giải phóng Trường Sa.
      Sau này, còn một số đợt phóng viên ra Trường Sa những năm đầu sau giải phóng nên xuất hiện thêm nhiều hình ảnh chụp bộ đội Trường Sa “thưở ban đầu”. Nhưng theo ông Xuể, có thể phân biệt đâu là những ảnh do ông chụp vào tháng 5-1975 bởi theo ông, có tới “ba lớp ảnh” bộ đội Trường Sa ngày đầu giải phóng.
Lớp ảnh  thứ nhất là hình ảnh bộ đội mặc quần áo bộ binh, đội mũ cối do Khắc Xuể chụp tháng 5-1975.
Lớp ảnh thứ hai do ông Bằng Lâm chụp có ảnh hình ảnh bộ đội mặc áo trắng hải quân.
Lớp ảnh thứ ba ông Vũ Đạt, cũng là cựu phóng viên Báo Quân đội nhân dân ra Trường Sa vào khoảng những năm 1978-1980 chụp lại với dụng ý không quên chiến công của bộ đội đặc công nên có nhiều hình ảnh anh em đội mũ sắt.
Gió, cát, chim và bia chủ quyền
Trường Sa ngày đó lúc quân đội Sài Gòn đồn trú còn khá hoang sơ. Ông Xuể kể rằng, cây cối khá ít, chỉ có một số cây dừa trên đảo Nam Yết và vài gốc bàng vuông cổ thụ trên những đảo lớn. Sâm đất là loài cây bò lan trên nhiều đảo. Nhiều đảo hầu như không có cây cối, chỉ mênh mông gió, cát, nắng cháy và…chim. Các công trình trên đảo chủ yếu là hầm, công sự phủ cát, gác tôn.  Có khá nhiều cột mốc chủ quyền do chế độ Sài Gòn cho dựng trên các đảo song do sau khi giải phóng ta triển khai xây dựng bia chủ quyền mới trên nền bia cũ được dỡ bỏ hoặc tu tạo nên những bia đó không còn nhiều.  Song trên quần đảo hiện nay vẫn còn lưu giữ được hai bia chủ quyền của chế độ cũ trên đảo Nam Yết và Song Tử Tây.
Cây cối thưa vắng nhưng bù lại đảo rất nhiều chim. Chim hải âu, ó biển, mòng biển nhiều vô kể. Chúng chen chúc đi trên cát, gặp người chẳng buồn bay vì có mấy khi chúng thấy người đâu. Trứng chim la liệt, phải vừa đi vừa tránh kẻo vỡ trứng của chúng… Hôm tới đảo An Bang, thấy loài chim ó biển đậu rất nhiều, nhìn rất dễ thương, ông Xuể thấy nó cứ nhìn mình tưởng nó hiền liền đưa tay “chào”. Nào ngờ, chú ó biển mổ cho một cái thật lực, máu tuôn xối xả. Vích cũng rất nhiều, chúng lên đẻ trứng ngay trên các bãi cát. Thực phẩm mang theo không nhiều, nguồn thức ăn chính là trứng chim, thịt vích, nước uống cũng thiếu, lại hầu như không có rau nên bộ đội hầu như ai cũng bị táo bón, ăn hai thứ đó nên táo bón kinh khủng. Nhưng rồi, mọi người đều động viên nhau vượt qua khi nghĩ đến những đồng đội bám đảo đã và sẽ phải chịu đựng cuộc sống như thế lâu dài hơn mình rất nhiều.
Những tác phẩm đầu tiên
Chuyến công tác kéo dài chừng 10 ngày, cũng là dịp để đoàn công tác khảo sát, hoạch định những vấn đề phòng thủ, giữ vững quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Ông Xuể và ông Thắng cũng đã hoàn thành nhiệm vụ chụp ảnh, thu thập tư liệu.
Trở về đất liền, dù là nhà báo đầu tiên chụp ảnh Trường Sa nhưng để có được những bức hình đó cho riêng mình, cũng không hề đơn giản. Bởi lẽ, theo lệnh cấp trên, ông phải bàn giao các cuộn phim chụp được. “Khi về đất liền, trong số 14 cuộn phim đã chụp, tôi bàn giao lại cho anh Thái tới 10 cuốn. Không lẽ nghĩ mình là nhà báo mà “trắng tay”, tôi xin giữ lại 4 cuốn với lý do ảnh “không quan trọng” và được đồng ý.  Còn bài viết về Trường Sa, tôi chỉ viết một bài về trận đánh đảo Sơn Ca và một bài về chiếc xe máy Kawasaky” – ông Xuể kể. Bài về trận đánh đảo Sơn Ca được đăng vào dịp cuối năm 1975, có kèm hình ảnh bộ đội ta làm chủ đảo, tuần tra bên cột mốc chủ quyền và dựng chòi canh giữ đảo. Về sau, nhiều bức ảnh chụp bộ đội Trường Sa do Nguyễn Khắc Xuể chụp đã được in trên Báo Quân đội nhân dân và nhiều báo khác. Trong đó, bức ảnh đảo Song Tử Tây với hình ảnh bộ đội cơ động tác chiến, phía sau là cột mốc chủ quyền có lá cờ giải phóng phần phật tung bay đã trở thành một bức ảnh mang tính biểu tượng giải phóng Trường Sa, được lưu giữ trong bảo tàng hải quân và nhiều sách báo viết về giải phóng Trường Sa.
 Sang năm 1976, những bài báo về Trường Sa đã xuất hiện nhiều hơn trên Báo Quân đội nhân dân. Trong đó, đáng chú ý phải kể để loạt ký sự 16 kỳ mang tên “Sóng gió trên những đảo tiền tiêu” do hai phóng viên Nguyễn Thắng và Hà Đình Cẩn viết chung đã tiết lộ những bí ẩn về Trường Sa. Danh từ “Đảo Bão Tố” đã được nhà báo Nguyễn Thắng đặt cho Trường Sa ngay từ đầu. Trong loạt ký sự, các số cuối viết sâu về Trường Sa từ cảnh vật tới con người, từ chuyện đảo chim, đảo vích tới chuyện trồng rau, treo cờ, ý chí khắc phục khó khăn và niềm lạc quan của người lính nơi tuyến đầu Tổ quốc. Đáng chú ý, các nhà báo đã khắc hoạ sinh động chuyện chở đất phù sa, gửi hạt giống rau và những hòm cờ Tổ quốc ra đảo. Chuyện về chim, về ốc, bào ngư, nhím biển…thật ly kỳ nhưng ngay từ ngày đó, các đảo đã ra nghị quyết bảo tồn các loài chim lâu dài.
Nhớ lại chuyến đi của hai người đồng nghiệp, Đại tá, nhà báo Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Trưởng phòng Văn hoá – Thể thao Báo Quân đội nhân dân xúc động mãi với hình ảnh hai nhà báo khỏe khoắn, đẹp trai đường bệ phóng xe rời thành phố. “Chúng tôi đều tin rằng chuyến đi của các anh sẽ thành công. Và chuyến đi ấy các anh đã thành công mỹ mãn. Anh Nguyễn Thắng trổ hết kinh nghiệm khai thác tài liệu, phóng sự đăng nhiều kỳ của anh đầy ắp thông tin mới lạ, xúc động về Trường Sa, về chiến công đánh chiếm quần đảo của bộ đội hải quân. Anh Khắc Xuể “đốt sạch” hơn chục cuộn phim, có nhiều ảnh rất đẹp về đảo, về những đàn chim đông nghịt quây quần bên chiến sĩ cùng những cây bàng quả vuông... Thiên phóng sự dài kỳ về Trường Sa của các anh trở thành một sự kiện báo chí 1975-1976, làm háo hức bạn đọc” – Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng kể.
Mong tìm nhân vật và kỷ vật
Lại nói về chiếc xe máy. Lúc trở lại Cam Ranh, nghĩ đường về Sài Gòn sau trận đi biển mệt nhoài, cả ông Xuể và ông Thắng đều không dám liều thêm một lần nữa. Họ đành tính chuyện mang xe đi gửi và đi ô tô về. Ông Xuể mang xe máy ra bến xe Nha Trang. Thấy con xe kềnh càng, các chủ xe, tài xế đều lắc đầu quầy quậy. Bí quá, ông Xuể đành thật thà vào ban quản lý bến xe, rút giấy giới thiệu, thẻ nhà báo và trình bày. “Hiệu nghiệm” ngay, người quản lý xem giấy và reo lên:
- Trời đất ơi! Giấy giới thiệu có chữ ký, con dấu tướng cộng sản nè! Tướng cộng sản ký nè! Ủa, vậy phải giúp mấy ổng chứ.
Nói rồi anh ta đưa ông Xuể ra tận một chiếc xe sắp lăn bánh, yêu cầu phải chở chiếc xe và nhà báo về ngay. Thế là “chú ngựa xích thố Kawasaky” được khiêng lên nóc xe, đường hoàng trở lại Sài Gòn. Nó trở thành “xe công” của tổ phóng viên thường trú. Những năm chiến tranh biên giới Tây nam xảy ra, nó lại trở thành “tuấn mã” đưa nhiều lớp phóng viên ra trận. Ông Xuể rất quý nó, muốn lưu giữ lâu dài nhưng xe dùng chung, lại cồng kềnh, tốn xăng nên sau khi ông chuyển ra Hà Nội, xe cũng dần hư hỏng rồi không biết số phận của nó ra sao. Đó cũng là một trong những điều khiến ông tiếc nhất.
Còn một điều ông thấy tiếc lớn hơn nữa. Đó là câu chuyện về những người lính, ở cả hai bên chiến tuyến. Ông nói: “Ấn tượng mạnh nhất là những người lính đặc công đã giải phóng Trường Sa. Ngày đó do yêu cầu của cấp trên, tôi gần như không được phỏng vấn họ, chỉ ghi tên sau khi chụp ảnh. Không biết 40 con người đó giờ đây số phận họ ra sao? Giá mà chúng ta làm được việc tìm lại họ hôm nay thì ý nghĩa quá. Và đáng chú ý nữa là 32 người lính quân đội Sài Gòn bị bắt làm tù binh ở Trường Sa, giờ họ ở đâu, làm gì? Nếu tìm lại được họ, nghe họ kể chuyện canh giữ đảo, chuyện ta giải phóng đảo như thế nào cũng sẽ thêm nhiều điều thú vị, hữu ích trong giáo dục truyền thống, khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam qua nhiều thế hệ” – ông Nguyễn Khắc Xuể tâm sự./.

NHỮNG NHÀ BÁO ĐẦU TIÊN RA TRƯỜNG SA - KỲ 1: CHUYẾN ĐI SAU "PHÚT 90"

NHỮNG NHÀ BÁO ĐẦU TIÊN RA TRƯỜNG SA - KỲ 1: CHUYẾN ĐI SAU "PHÚT 90"

NHỮNG NHÀ BÁO ĐẦU TIÊN RA TRƯỜNG SA - KỲ 1: CHUYẾN ĐI SAU "PHÚT 90"
QĐND - Ngày 29-4-1975, Trường Sa-quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc hoàn toàn giải phóng. Nhận thức tầm quan trọng của việc tuyên truyền khẳng định chủ quyền, có hai nhà báo của Báo Quân đội nhân dân đã được giao nhiệm vụ theo chuyến tàu đầu tiên tiếp quản Trường Sa. Một trong hai nhà báo có mặt ở Trường Sa khi đó nay còn sống là Thiếu tá Nguyễn Khắc Xuể, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã tìm gặp ông để ghi lại những ký ức đẹp đẽ, hào hùng của người lính cầm bút lần đầu đến Trường Sa.
“Kỷ niệm vĩ đại”
Mấy năm rồi, cứ gần dịp 29-4, kỷ niệm giải phóng Trường Sa là tôi gọi điện xin gặp ông nhưng năm nào ông cũng từ chối. Nên năm nay, bất ngờ lắm khi ông đồng ý. Lý do có thể cũng vì câu trình bày của tôi: “Sắp 40 năm rồi mà chú. Các chú là những nhân chứng lịch sử nhưng có hai người thì chú Nguyễn Thắng cũng đã ra đi…”.
Sau gần 40 năm, ở tuổi 65 nhưng ông vẫn tráng kiện như thừa sức đi biển tiếp. Ông gọi lần đi Trường Sa đó là “kỷ niệm vĩ đại”!
Ghi chép của Nhà báo Nguyễn Khắc Xuể về chuyến đi Trường Sa.
Hà Nội, sáng 2-5-1975. Nhà số 7 Phan Đình Phùng. Hai ngày liền hai số báo ra đỏ rực tin chiến thắng huy hoàng. Tòa soạn hừng hực dõi theo tin, bài gửi về từ mặt trận. Cánh phóng viên không được đi, phải ở nhà “gác gôn” thì ngẩn ngơ vì không được ra trận. Khắc Xuể cũng thế. Nhưng sau “phút 90”, chàng phóng viên trẻ bất ngờ được Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước gọi lên, đưa cho một tờ giấy giới thiệu. Giọng ông Ước nghiêm trang:
- Giấy có chữ ký của Trung tướng Lê Ngọc Hiền, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày mai, cậu đi Sài Gòn ngay!
Sài Gòn… Ngày đó với Xuể là một cái gì xa lắc xa lơ. Nó ở đâu, đi vào bằng cách nào, đâu có biết? Ngồi ngẫm một lúc, Xuể chợt nhớ ra mình có quen anh Nguyễn Duy Hiền là Phó tham mưu trưởng Trung đoàn 918 máy bay vận tải quân sự. Anh cuống cuồng phi xe đạp sang. Nhìn tờ giấy có chữ ký của Trung tướng, anh Hiền đồng ý. Thế là sáng hôm sau, Xuể được quá giang trên chuyến bay vận tải vào Sài Gòn.
“Đoạt” siêu xe, thẳng tiến Cam Ranh
Trưa 3-5-1975. Sân bay Tân Sơn Nhất hừng hực nắng. Xuể xuống máy bay, mắt anh cứ dán vào những tấm biển quảng cáo kem đánh răng. Lò dò hỏi mãi, anh mới về tới cơ quan đại diện Tổng cục Chính trị ở gần cầu Thị Nghè. Lúc này, cấp trên mới cho biết, anh sẽ cùng phóng viên Nguyễn Thắng đã vào Sài Gòn trước đó, tham gia đoàn công tác của Bộ Tổng tham mưu ra kiểm tra quần đảo Trường Sa. Ngày N, giờ G, phải có mặt ở Cam Ranh để nhận nhiệm vụ.
Trường Sa! Nơi chưa một lần đặt chân, cũng không biết nó xa cỡ chừng nào. Nhưng chỉ nghe tên, nghe nhiệm vụ đã thấy lòng chộn rộn, lo lắng và dâng lên bao cảm xúc khó tả. Nhưng đi bằng cách nào? Từ Sài Gòn ra Cam Ranh những hơn 500 cây số? Hai phóng viên trẻ chạy sang gặp Bộ chỉ huy Tiền phương thì được câu trả lời là tự tìm cách đi, bởi xe thì… không có.
Chợt nhớ ra bên Quân chủng Không quân đã vào tiếp quản sân bay, Xuể ra sân bay để hy vọng “xem có mượn được cái xe máy nào không?”.
Ra sân bay, câu trả lời là “không”. Thất thểu ra về, Khắc Xuể đành hỏi đại một chiến sĩ vệ binh:
- Này, cậu có thấy gần đây có cái xe máy nào không?
Bất ngờ, cậu ta thủng thẳng:
- Cuối sân bay kia kìa, trong đống ngổn ngang có một chiếc to lắm, anh thích thì ra mà tìm!
Xuể chạy lại cuối đường băng, nơi ô tô, giày dép, mũ áo, đồ đạc tàn quân vứt ngổn ngang. Một chiếc Kawasaki 250 phân khối đỏ chót, mới cáu cạnh, mang biển vàng quân cảnh còn cắm nguyên chìa khóa nằm chình ình đó. Mừng rỡ nhưng rồi lại… lo, vì bản thân Xuể chưa bao giờ đi xe máy. Anh suy ngẫm rồi quyết định “liều”. Bởi lẽ, thời gian ở Hà Nội, có lần đi công tác cùng phóng viên Triệu Hùng, anh đã chứng kiến cách phóng viên Triệu Hùng đi xe Hải Âu ba bánh. Xuể cố căng đầu nhớ những thao tác của anh Hùng. Cũng vặn chìa khóa, cũng đạp cần khởi động. Xoay xoay, vặn vặn, chả biết đâu là côn, đâu là số, cuối cùng chiếc xe cũng lao đi trong sự choáng váng, loạng choạng của người lính trẻ. Giật cục. Chết máy. Đi. Dừng. Đi… Cứ thế đi. Mãi đến 8 giờ tối, Xuể mới về tới cơ quan.
Sáng hôm sau, đổ xăng đầy bình, còn cẩn thận chở thêm hai can xăng 20 lít to uỳnh hai bên, Xuể chở Thắng hùng dũng lao khỏi Sài Gòn. Dọc đường, gặp nhiều xe đò đi cùng chiều, họ lạ lẫm nhìn hai anh giải phóng quân đi xe kiểu gật gù, lúc lạng bên này, khi tạt bên kia. Một vài tài xế ngó đầu ra chửi đổng:
- Đi kiểu gì vậy, khùng à?
- Mới tập xe sao đi ngu thế cha nội?
Mặc kệ, hai anh cứ thế đi, vượt qua những cung đường lạ hoắc. Dọc đường, quân trang quân dụng vứt ngổn ngang. Trưa 5-5-1975, họ đến Quân cảng Cam Ranh.
Tại Cam Ranh, họ gặp Đại tá Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân. Nhìn hai phóng viên trẻ từ đầu tới chân, ông Thái bắt tay:
- Khá lắm! Đúng chất lính chiến đấy! Nhưng thử thách trên bờ chưa nhằm nhò gì khi ra biển đâu!
“Qua anh Thái, tôi chỉ biết được tham gia đoàn phái viên của Bộ Tổng tham mưu ra kiểm tra quần đảo Trường Sa vừa được giải phóng ít ngày. Đoàn khá đông, khoảng 10-20 người, đi trên 3 con tàu…” - ông Xuể bồi hồi nhớ lại.
Nhiệm vụ “5 không”
Khi giao nhiệm vụ cho phóng viên, ông Xuể còn nhớ rất rõ “5 không” mà ông Thái dặn dò gồm: Không được chụp quân cảng, không được chụp đoàn tàu đang hành quân, không được chụp toàn cảnh đảo và những vũ khí khí tài lớn, không được chụp chân dung cán bộ chỉ huy và chiến sĩ, không được chụp cảnh ông Thái ngồi làm việc với Ban chỉ huy các đảo.
Trừ “5 không” đó ra thì nhiệm vụ của phóng viên là làm sao chụp ảnh, viết bài để thấy được bộ đội ta huấn luyện, đánh chiếm đảo; chụp sao nêu bật được việc ta đã làm chủ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, trong đó có nhiều điểm nhấn như cột mốc, cờ Tổ quốc, sinh hoạt của bộ đội…
 “Lúc đó, anh Thái dặn gì thì làm thế. Tôi không được phép hỏi lại và cũng không được hỏi ai, hỏi tại sao. Nhưng mãi sau này tôi mới hiểu những điều anh Thái dặn. Bởi lẽ, phía trước Trường Sa, xung quanh còn rất nhiều đối phương rình rập ta từng giờ, từng động thái quân sự; họ lại ở những hòn đảo gần ta, có thể quan sát rất rõ. Đó là chưa kể các tàu đã bỏ chạy của quân đội Sài Gòn đều là tàu tốt, mới chỉ loanh quanh ở các hòn đảo gần Phi-líp-pin” - ông Xuể cho hay.
Nợ bạn một tiếng còi chào
Một đêm mùa hè biển lặng, 3 con tàu trong bộ dạng tàu cá rời Quân cảng Cam Ranh đi thẳng xuống Nha Trang. Lần đầu ra khơi trên vùng biển vừa giải phóng của quê hương, lòng ai cũng lâng lâng một niềm xúc động khó tả.
Quá nửa đêm thì một cơn giông lớn nổi lên. Sóng, gió càng ngày càng dữ dội. Cả 3 con tàu đã mất liên lạc với nhau. Chiếc tàu ông Xuể đi cũng chết máy, chỉ còn thả trôi trên biển. Sự lo âu đã hằn trên trán thuyền trưởng.
Giữa lúc hoang mang đó, từ xa xa, bóng một chiếc tàu lớn đen ngòm đi tới. Tàu “ta” hay “địch”? Nửa mừng, nửa lo. Phải đợi đến khi nó áp sát, nhìn rõ chữ Vladimir Vostok, anh em trên tàu mới reo lên: “Tàu Liên Xô rồi!”. Nhận thấy “tàu cá” Việt Nam đang gặp nạn, tàu bạn cho phép buộc dây để cứu hộ. Nhưng do thiếu kinh nghiệm, lẽ ra chỉ buộc một dây, anh em lại buộc cả hai. Tàu chạy, dây kéo xoay ngang. “Rầm”, con tàu nhỏ xô boong vào chiếc tàu buôn. Ca-bin móp ngay một khoảng lớn. “Chặt dây!” - có tiếng ai đó hét to khi con tàu sắp lao vào một lần thứ hai.
“Bộ đội hầu như say sóng cả, chỉ còn vài anh chạy lên. Tôi không bị say nên cũng lao ra,  tìm được một cái rìu chuyên chặt đá lạnh, chặt cái dây đằng lái chỉ để dây đằng mũi bám đi theo cái tàu. Dây đứt. Con tàu ngoan ngoãn đi theo tàu bạn” - ông Xuể vẫn chưa hết thảng thốt khi nhớ lại khoảnh khắc sinh tử ấy.
Thoát chết. Nhưng câu hỏi đặt ra lúc này là làm sao để ra tín hiệu nhờ họ cứu hộ? Không thể đi về Trường Sa. Càng không thể nói mình là tàu quân đội! Mà muốn nói để họ kéo tàu về đâu phải có bản đồ, nhưng không thể là bản đồ quân sự. May mắn sao, anh em cũng kiếm được một chiếc bản đồ dân sự, rồi lấy mực đỏ khoanh vòng tròn vào cảng Nha Trang, vẽ thêm hình mũi neo rồi dùng sào đưa sang phía tàu bạn. Tàu bạn cứ thế kéo tàu ta.
“Lúc đó thật ra vẫn chưa hết hoang mang, không biết có phải tàu Liên Xô thật không? Nhỡ “nó” kéo mình sang Phi-líp-pin thì sao?” - ông Xuể cho hay. Dọc đường, ông Thái đã lệnh nạp đạn vào khẩu ĐKZ ở mũi tàu, sẵn sàng nổ súng nếu có biến. Lúc này, ông Xuể mới bàng hoàng nhận ra con tàu không phải là “tàu cá” mà chở đầy súng đạn bổ sung cho Trường Sa. Ơn trời, cú đâm móp ca-bin mạnh thế nếu một quả đạn phát nổ thì không chỉ tàu ta mà cả chiếc tàu buôn cũng tan tành trăm nghìn mảnh!
Chạng vạng sáng hôm sau, thấy biển yên bình và từ xa thấy dáng núi, anh em mới chạy ùa lên boong, biết mình đã thoát chết, đã vào tới Nha Trang. Ngó tìm tàu bạn thì tàu bạn đã cắt dây, tiếp tục hành trình tự lúc nào. “Đúng là tàu Liên Xô đã cứu mình. Chúng tôi còn nợ bạn một tiếng còi chào” - ông Xuể rưng rưng nhớ lại.
Ai cũng nghĩ hai con tàu còn lại đã bị làm mồi cho cơn giông biển. Về tới Nha Trang, ông Thái lập tức xin trực thăng đi tìm suốt cả buổi sáng vẫn không thấy đâu. Cả trưa hôm ấy, không ai ăn được cơm. Không khí buồn bã bao trùm lên cả đoàn công tác... (Còn nữa)
Ký sự của NGUYÊN MINH - TRƯỜNG GIANG

Kỳ 2: Trường Sa thuở ban đầu

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/ky-su-nhan-vat/ky-1-chuyen-di-sau-phut-90/307521.html
Tin giải phóng Trường Sa lần đầu xuất hiện trên báo chí ngày 6-5-1975
Tin giải phóng Trường Sa lần đầu xuất hiện trên báo chí ngày 6-5-1975Giải phóng đảo Song Tử Tây - ảnh Khắc XuểBút tích ghi chép của nhà báo Khắc Xuể về chuyến đi Trường Sa tháng 5-1975
Bút tích ghi chép của nhà báo Khắc Xuể về chuyến đi Trường Sa tháng 5-1975Nhà báo Nguyễn Khắc Xuể (phải) và NVMNhà báo Nguyễn Khắc Xuể (phải) và NVMTrang nhất báo Quân đội nhân dân số ra ngày 1-5-1975T
Trang nhất báo Quân đội nhân dân số ra ngày 1-5-1975

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

PHẢN BÁC BẢN CÁO BẠCH XUYÊN TẠC CỦA TRUNG QUỐC VỀ VỤ GIÀN KHOAN VÀ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA

bài 1: HÃY ĐỌC VÀ PHẢN BÁC TRUNG QUỐC, NẾU BẠN CÓ HIỂU BIẾT VÀ CĂN CỨ
NVM FB - Dưới đây là bản cáo bạch của Trung Quốc đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao nước này. Bạn, nếu là người hiểu nắm được tình hình và có nhiều căn cứ, hãy lên tiếng hoặc cung cấp giúp báo chí, công luận lên tiếng. Dù biết rằng, những luận cứ trong bản cáo bạch này chỉ là mớ lý sự cùn và Trung Quốc sẽ còn rất nhiều mưu hèn, kế bẩn chưa tung ra nhưng với tinh thần "biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng", chúng ta cần phản bác toàn diện những lập luận họ đưa ra.
Xin được nhờ thánh nhậu Nguyen NGọc Hưng và chuyên gia Hán ngữ Hoà Tàu - Nguyễn Hoà đọc và kiểm chứng thêm trên trang của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng nhưng nội dung bản chuyển ngữ này.
NVM Fb từ hôm nay sẽ đưa những bài viết bác bỏ quan điểm trong bản cáo bạch của Trung Quốc.
DƯỚI ĐÂY LÀ TOÀN VĂN CÁO BẠCH CỦA BỘ NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC VỀ HYSY981 ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN NGỮ
Hoạt động của giàn khoan HYSY 981: Khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc

Bộ Ngoại giao Trung Quốc

Dịch từ Bộ Ngoại Giao Trung Quốc


I. Hoạt động của giàn khoan HYSY 981

Vào ngày 2 tháng Năm 2014, giàn khoan HYSY 981 của một công ty Trung Quốc bắt đầu hoạt động khoan bên trong khu vực tiếp giáp Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc (xem Phụ lục 1/5 về những địa điểm hoạt động) với mục đích tìm kiếm dầu và khí đốt. Khi công đoạn đầu của hoạt động đã hoàn tất, công đoạn thứ hai bắt đầu vào ngày 27 tháng Năm. Hai vị trí hoạt động cách Đảo Trung Kiến thuộc Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc 17 hải lý và nằm trong đường cơ sở hải phận Quần đảo Tây Sa, cách xa khu bờ biển thuộc đất liền của Việt Nam từ 133 đến 156 hải lý.

Công ty Trung Quốc đã tiến hành thăm dò trong khu vực biển này từ 10 năm qua, bao gồm các hoạt động địa chấn và thăm dò giếng dầu. Hoạt động khoan dò do HYSY 981 thực hiện lần này là sự tiếp tục của một quá trình thăm dò thường xuyên và nằm đúng trong chủ quyền và thẩm quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

II. Hành động khiêu khích của Việt Nam

Ngay sau khi hoạt động thăm dò của Trung Quốc vừa khởi sự, Việt Nam đã đưa một lượng lớn các tàu thuyền, bao gồm tàu vũ trang đến khu vực và phá rối mạnh mẽ và phi pháp hoạt động của Trung Quốc, họ đã đâm vào các tàu của nhà nước Trung Quốc làm nhiệm vụ dẫn dắt và bảo vệ trong khu vực ấy. Cùng lúc, Việt Nam cũng đã đưa người nhái và những thiết bị dưới nước vào khu vực để thả một lượng lớn các chướng ngại vật, bao gồm lưới đánh cá và các vật nổi trong khu vực biển. Vào lúc 5 giờ chiều ngày 7 Tháng Sáu, đã có đến 63 tàu thuyền Việt Nam trong khu vực vào thời điểm cao độ nhất để tìm cách chọc thủng tuyến bảo vệ của Trung Quốc và đâm vào các tàu của chính quyền Trung Quốc với tổng cộng 1.416 lần.

Những hành động nói trên của phía Việt Nam là những vi phạm nghiêm trọng đối với lãnh thổ, chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, đe doạ trầm trọng đến sự an toàn của nhân viên Trung Quốc và giàn khoan HYSY 981, và là những vi phạm trắng trợn đến luật lệ quốc tế quan yếu, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) và Công ước về ngăn ngừa các hành động bất hợp pháp vi phạm an toàn lưu thông hàng hải và Nghị định thư về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp vi phạm sự an toàn của nền tảng cố định nằm trên thềm lục địa. Những hành động này cũng gây ảnh hưởng xấu đến quyền tự do và an ninh lưu thông trong khu vực biển, làm tổn hại đến hoà bình và ổn định trong khu vực.

Trong khi dùng bạo lực một cách phi pháp để gây rối hoạt động bình thường trên biển của công ty Trung Quốc, Việt Nam lại còn dung dưỡng những cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong nước. Vào giữa tháng Năm, hàng nghìn phần tử vô pháp luật tại Việt Nam đã tiến hành việc đánh đập, đập phá, hôi của và đốt cháy các công ty của Trung Quốc và của một số quốc gia khác. Họ đã giết hại một cách dã man bốn người có quốc tịch Trung Quốc và gây tổn thương hơn 300 người khác, và đã gây ra những thiệt hại tài sản to lớn.

III. Phản ứng của Trung Quốc

Các vùng biển giữa Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc và vùng biển thuộc đất liền của Việt Nam vẫn chưa được phân định. Hai bên vẫn chưa tiến hành xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa trong vùng biển này. Cả hai bên đều có quyền tuyên bố đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS. Tuy nhiên, các vùng nước này sẽ không bao giờ trở thành đặc khu kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam dù áp dụng bất kỳ nguyên tắc nào vào việc phân định.

Để đối phó với hành động khiêu khích trên biển của Việt Nam, Trung Quốc đã kiềm chế rất nhiều và và đã tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết. Các tàu của chính phủ Trung Quốc đã được điều đến hiện trường với mục đích bảo đảm an toàn hoạt động, qua đó đã giữ gìn trật tự qui trình sản xuất và hoạt động trên biển và an toàn hàng hải một cách hiệu quả. Trong khi đó, kể từ ngày 2 Tháng Năm, Trung Quốc đã có hơn 30 lần liên lạc với Việt Nam ở các cấp độ khác nhau, yêu cầu phía Việt Nam chấm dứt hành động phá rối phi pháp của mình. Tuy thế, thật đáng tiếc là việc gây rối phi pháp của Việt Nam vẫn đang tiếp diễn.

IV. Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc

1. Quần đảo Tây Sa là một phần vốn có của lãnh thổ Trung Quốc, không gì bác bỏ được.

Trung Quốc là quốc gia đầu tiên đã khám phá, phát triển, khai thác và thực hiện thẩm quyền đối với quần đảo Tây Sa. Trong triều đại Bắc Tống (960-1126 Sau Công nguyên), chính phủ Trung Quốc đã thiết lập thẩm quyền đối với quần đảo Tây Sa và đưa hải quân đến tuần tra các vùng biển ấy. Năm 1909, Đề đốc Lý Chuẩn của hải quân Quảng Đông của nhà Thanh đã dẫn đầu chuyến thanh sát quân sự trên quần đảo Tây Sa và tái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc bằng cách kéo cờ và bắn một loạt đạn trên đảo Vĩnh Hưng. Năm 1911, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã công bố quyết định đưa quần đảo Tây Sa và vùng biển lân cận vào dưới thẩm quyền của Huyện Ya thuộc đảo Hải Nam.

Trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Nhật Bản đã xâm lược và chiếm đóng quần đảo Tây Sa. Sau khi Nhật đầu hàng vào năm 1945, chiếu theo một loạt các văn bản quốc tế, chính phủ Trung Quốc đã cử quan chức cấp cao đi tàu quân sự đến quần đảo Tây Sa vào tháng 11 năm 1946 để tiến hành lễ tiếp nhận các hòn đảo, một tấm bia đá đã được dựng lên để kỷ niệm việc bàn giao và sau đó quân đội đã trấn thủ ở đấy. Vì thế, Quần đảo Tây Sa, vốn từng bị một quốc gia khác chiếm đóng bất hợp pháp đã được trả về thẩm quyền của chính phủ Trung Quốc.

Năm 1959, chính phủ Trung Quốc thiết lập Văn phòng Quản lý các Quần đảo Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa. Vào tháng Giêng năm 1974, quân đội và nhân dân Trung Quốc đã đánh đuổi đội quân xâm lược của chính quyền Sài Gòn thuộc miền Nam Việt Nam ra khỏi đảo San Hô và đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Tây Sa để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Luật của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp vào năm 1992 và công bố các điểm cơ sở và đường cơ sở thuộc lãnh hải của quần đảo Tây Sa vào năm 1996, trong đó đều khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và giới hạn các vùng lãnh hải của các đảo. Năm 2012, chính phủ Trung Quốc đã thành lập những cơ quan hành chính cho thành phố Tam Sa trên đảo Vĩnh Hưng thuộc Quần đảo Tây Sa.

2. Trước năm 1974, không một chính phủ kế thừa nào của Việt Nam đã thách thức chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa. Từ cổ xưa, Việt Nam đã chính thức công nhận quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Quan điểm này đã được phản ánh trong các tuyên bố và ghi chú của chính phủ cũng như trên báo chí, bản đồ và sách giáo khoa của họ.

Trong một cuộc họp với đại diện lâm thời Lý Chí Dân thuộc Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam vào ngày 15 tháng Sáu năm 1956, Thứ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm đã long trọng tuyên bố rằng "theo dữ liệu của Việt Nam, các Quần đảo Tây Sa và Nam Sa trong lịch sử là một phần của lãnh thổ Trung Quốc." Lê Lộc, Quyền Vụ trưởng Vụ châu Á của Bộ Ngoại giao Việt Nam, người cũng có mặt tại cuộc họp, đã trích dẫn cụ thể dữ liệu của Việt Nam và chỉ ra rằng, "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã là một phần của Trung Quốc vào thời nhà Tống."

Ngày 4 tháng Chín năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã ban hành một bản tuyên bố (xem Phụ lục 2/5), trong đó nói rằng bề rộng phạm vi lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và nói rõ rằng "quy định này áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả Quần đảo Tây Sa ... ". Ngày 06 tháng Chín, báo Nhân Dân, tờ báo chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đã công bố trên trang nhất toàn bộ văn bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải của Trung Quốc. Ngày 14 tháng Chín, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của chính phủ Việt Nam đã gửi một công hàm ngoại giao (xem Phụ lục 3/5) đến Thủ tướng Chu Ân Lai của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, long trọng tuyên bố rằng "chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công nhận và hỗ trợ tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc đưa ra ngày 04 tháng Chín năm 1958 " và "chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định này".

Ngày 09 tháng Năm năm 1965, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành một tuyên bố liên quan đến các “khu vực chiến sự” của quân đội Mỹ tại Việt Nam do chính quyền Hoa Kỳ chỉ định. Tuyên bố nói rằng "Việc Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson chỉ định toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và các vùng biển lân cận với giới hạn khoảng 100 dặm từ bờ biển của Việt Nam và một phần của lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc thuộc quần đảo Tây Sa là ‘khu vực chiến sự’ của quân đội Hoa Kỳ ... là sự đe dọa trực tiếp đến an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các nước láng giềng ... "

Trong tập Bản đồ Thế giới in vào tháng Năm năm 1972 của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam đã ghi quần đảo Tây Sa theo tên Trung Quốc (xem Phụ lục 4/5). Sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974 có một bài dạy mang tên "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" (xem Phụ lục 5/5). Trong đó viết, "Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Bành Bồ, Châu Sơn... làm thành một bức Trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc...."

Nhưng giờ đây chính phủ Việt Nam lại đảo ngược lời nói của mình bằng cách tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Tây Sa của Trung Quốc. Đó là một vi phạm trắng trợn các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc không được đảo ngược thừa nhận pháp lý và các tiêu chí căn bản trong quan hệ quốc tế.

V. Giải quyết tình hình một các đúng đắn

Trung Quốc là một lực lượng trung thành trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Nam Hải và thúc đẩy hợp tác và phát triển giữa các nước trong khu vực. Trung Quốc kiên quyết duy trì mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, các tiêu chí căn bản của quan hệ quốc tế và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Trung Quốc không bao giờ muốn có bất kỳ một mối bất ổn trong khu vực láng giềng của mình.

Trung Quốc muốn có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, nhưng có những nguyên tắc mà Trung Quốc không thể từ bỏ. Các kênh liên lạc giữa Trung Quốc và Việt Nam đang mở ra. Trung Quốc kêu gọi Việt Nam cần ghi nhớ các lợi ích chung của các mối quan hệ song phương và hòa bình và ổn định ở Biển Nam Hải, tôn trọng chủ quyền, quyền về chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, ngay lập tức chấm dứt tất cả các hình thức phá rối các hoạt động của Trung Quốc và triệu hồi tất cả các tàu thuyền và nhân sự ra khỏi khu vực để giảm bớt căng thẳng và khôi phục lại sự bình yên trên biển càng sớm càng tốt. Trung Quốc sẽ tiếp tục nỗ lực của mình để giao tiếp với Việt Nam nhằm giải quyết tình hình hiện nay một cách đúng đắn.

VI. Phụ lục

Phụ lục 1/5: Bản đồ các vị trí hoạt động của công ty Trung Quốc

Phụ lục 2/5: Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải của Trung Quốc được công bố vào ngày 4 tháng Chín năm 1958

Phụ lục 3/5: Những ghi chú gửi ngày 14 tháng Chín năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đến Thủ tướng Chu Ân Lai thuộc Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Phụ lục 4/5: Bìa của Bản đồ Thế giới của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam in vào tháng 5 năm 1972, và các trang về Philippines, Malaysia, Indonesia và Singapore

Phụ lục 5/5: Bài học mang tên "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" trong sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành vào năm 1974
(Nguồn: Trần Hữu Dũng)
http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1163264.shtml

NHỮNG HÌNH ẢNH ĐƯỢC TRUNG QUỐC CÔNG BỐ VÀ DỰA VÀO ĐÓ CHO LÀ CĂN CỨ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA






Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Ký sự: TRƯỜNG SA - PHONG BA, ĐẰNG NGÀ - bài 1: Cây chỉ thị chủ quyền

Ký sự: TRƯỜNG SA - PHONG BA, ĐẰNG NGÀ - bài 1: Cây chỉ thị chủ quyền
NVM Blog - Không hẹn mà gặp, trong lịch sử báo Quân đội nhân dân, hiếm khi có một chuyến công tác ra Trường Sa có hai phóng viên mà lại đi chung một chuyến tàu. Tôi và Giang Mèo (tức Hoàng Trường Giang) không chỉ cùng báo mà lại cùng phòng đã có một may mắn ngẫu nhiên khi được ra Trường Sa trên cùng con tàu HQ 561, tàu quân y hiện đại nhất Đông Nam Á.
Dù không phải là lần đầu ra Trường Sa nhưng chuyến đi đã để lại trong hai anh em nhiều kỷ niệm khó quên, nhiều cảm xúc nghĩ suy, trăn trở. Chuyến đi có nhiều điều thú vị ngẫu nhiên như:
1- Chúng tôi lên đường đúng dịp kỷ niệm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc sau 39 năm. Vào TPHCM vào ngày 30-4 và lên tàu vào ngày 3-5. Đó cũng là thời điểm mà 39 năm trước, Báo Quân đội nhân dân, lớp phóng viên cha anh chúng tôi đã có một may mắn lịch sử: Hai nhà báo Nguyễn Khắc Xuể và Nguyễn Thắng bất ngờ được nhận nhiệm vụ theo phái đoàn Bộ Tổng tham mưu ra tiếp quản Trường Sa vừa giải phóng. Đó cũng là hai nhà báo đầu tiên (và duy nhất - duy hai) được ra Trường Sa ngay đầu tháng 5-1975 lịch sử. Và, sau 39 năm, chúng tôi cũng ra Trường Sa vào đầu tháng 5, hành trình gợi nhớ các anh cùng nhiều liên tưởng Trường Sa - hôm qua và hôm nay…
2- Cũng không hẹn mà gặp, trước chuyến công tác Trường Sa và không phải để chuẩn bị cho chuyến đi, chúng tôi đã gặp lại được nhà báo Khắc Xuể - nhà báo đầu tiên ra Trường Sa còn sống (nhà báo Nguyễn Thắng đã ra đi cách đây vài năm). Năm nào, đến dịp 30-4 tôi cũng gọi điện xin gặp ông (dù ông ở tận TP Hồ Chí Minh) nhưng không năm nào ông đồng ý gặp. Vậy mà năm nay, ông bất ngờ đồng ý, và gặp chúng tôi ngay tại Hà Nội. Cuộc gặp ông trong một chiều đầu hạ, được ông kể lại bao thông tin quý giá cùng chia sẻ những bức ảnh lịch sử, càng hun đúc trong tôi niềm tự hào và những cảm xúc Trường Sa…
3- Chuyến đi diễn ra đúng vào những ngày "Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa" khiến "Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng" khi Trung Quốc mang giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc…
====>Từ những cảm xúc ấy, về đất liền, chúng tôi đã hoàn thành loạt ký sự 5 kỳ mang tên "Trường Sa - phong ba, đằng ngà", một Trường Sa với nhiều điều muôn thưở cùng những giá trị vĩnh hằng, những chân lý đã sinh ra từ Trường Sa như sức sống của hai loài cây mang hồn dân tộc: TRe Đằng Ngà của Thánh Gióng diệt giặc ngoại xâm và cây phong ba Trường Sa như phẩm giá người lính hiêng ngang, vững vàng trong dông bão…
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt ký sự này
Trường Sa – phong ba, đằng ngà
Bài 1: Cây “chỉ thị chủ quyền”
Ghi chép của NGUYÊN MINH – TRƯỜNG GIANG
         Trên thế giới, có những địa danh xa xôi, khắc nghiệt luôn hoang vắng, quanh năm không dấu chân người. Nhưng ở Việt Nam, có một địa danh xa xôi mà cùng với thời gian, cùng với sóng gió, bão dông, nơi ấy lại càng thêm gần, thêm đẹp trong lòng mỗi người dân đất Việt.
         Nơi ấy là Trường Sa…
         Trường Sa, những ngày đầu giải phóng
         Mùa hè năm nay, chúng tôi ra Trường Sa vào đầu tháng 5. Trước lúc lên đường, chúng tôi đã tìm gặp ông Nguyễn Khắc Xuể, cựu phóng viên Báo Quân đội nhân dân, là một trong hai nhà báo vào tháng 5-1955 được ra Trường Sa vừa giải phóng. Ông cũng là nhà báo duy nhất chứng kiến sự kiện này nay còn sống.
Trường Sa 1975 lưa thưa vài cây dừa và trên đất mọc đầy sâm đất (ảnh: Khắc Xuể)
         Trường Sa lúc đó rất hoang sơ. Ở đảo Song Tử Tây chỉ có chừng mươi cây dừa, chưa nhiều bàng vuông, phong ba như bây giờ. Chỉ có cây sâm đất là khá nhiều, mọc kín đảo Trường Sa Lớn.  Ở Nam Yết có dừa, bàng vuông…An Bang, Sinh Tồn gần như không có cây cối. Đứng dưới cái nắng cháy thịt da chụp ảnh, ông Xuể thầm nghĩ mà không dám nói ra: “Liệu anh em có trụ được không?”.
         Cuối năm 1976, nhà báo Nguyễn Thắng đi cùng ông Khắc Xuể đã có nhiều bài viết sinh động về Trường Sa đăng trên Báo Quân đội nhân dân, đáng chú ý là loạt ký sự 16 kỳ “Sóng gió trên những đảo tiền tiêu”. Trong ký sự, hình ảnh Trường Sa hiện lên thật đẹp, lạ và quyến rũ.
         Trước hết là chuyện về các loài cây. Những cây bàng vuông cổ thụ, có cây đường kính gốc tới 2 mét, cao 16 mét, xoả bóng mát tới 40m2, “đủ cho một đại đội trú nắng”, quả bàng vuông cuối mùa nặng 0,5kg, có quả nặng tới hơn 1 kg. Cây cao nhất có tới 9 nhánh lực lưỡng.
Những phóng sự báo chí đầu tiên viết về Trường Sa năm 1975 do phóng viên báo QĐND thực hiện
         Những cây bàng vuông “kỷ lục” này có từ đâu? Nhà báo Nguyễn Thắng lý giải, ở cố đô Huế, cũng có rất nhiều bàng vuông. Rất có thể nó đã được mang ra trồng trên đảo từ năm 1826 khi đạo quân đi tìm hải vật được vua cử ra hằng năm và lập miếu thờ thổ thần trên đảo.
         Nhiều đảo khi đó rất lắm cây mù u cao lớn, loài cây phổ biến xứ rừng U Minh Hạ và cây nhàu, một loài cây thuốc mọc nhiều ở Nha Trang.
         Trên rừng có bao nhiêu sắc hoa thì ngoài đảo cũng có bấy nhiêu sắc san hô. Anh em ghép những bông màu vàng, màu đỏ xếp thành quốc huy và dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
                  Cổ thụ Trường Sa
         Trở lại Trường Sa tháng 5-2014, tôi quyết đi tìm xem những cây cổ thụ năm 1975 nay còn không?
         Đến đảo Nam Yết, tôi thấy ngay phía trước cột mốc chủ quyền, giữa trưa hè đổ lửa, bóng hai cây bàng vuông và mù u cổ thụ vươn rộng hàng trăm mét vuông, đủ cho cả đại đội ngồi uống nước. Trung tá Nguyễn Văn Dũng, Chính trị viên đảo dẫn tôi ra gốc cây bàng vuông 9 nhánh và “bật mí”, đây là một trong những “lão đại mộc tinh” ở Trường Sa. Theo một nhà khoa học thực vật, tuổi đời nó có lẽ phải trên dưới một thế kỷ. Phải chăng đây cũng là cây bàng vuông cổ thụ mà nhà báo Nguyễn Thắng nhắc đến trong thiên ký sự 39 năm trước? Phải chăng nó cũng chính là cây bàng vuông 9 nhánh mà cô văn công ngồi vá áo cho bộ đội trong bức ảnh nhà báo Nguyễn Viết Thái của báo Phú Khánh chụp năm 1988?
Dưới gốc một cổ thụ Trường Sa năm 1988- ảnh: Nguyễn Viết Thái
         Năm ấy, ở đảo Trường Sa Lớn, anh Thái đã tỉ mẩn đếm đầu cây cổ thụ thì thấy chỉ có 2 cây bàng vuông. Nay, Trung tá Lương Xuân Giáp, Chính trị viên đảo đưa tôi đi xem hai cây bàng vuông có tuổi trên dăm bảy chục năm bên lớp lớp cây con, cây cháu. Anh Giáp bảo tôi, thế là bộ đội Trường Sa đã lập nên một kỳ tích về cây. “Không tin, anh cứ mở sách đỏ Việt Nam mà coi, ở trang 67 có nói về cây bàng vuông mà ngoài ở Việt Nam, chỉ còn ba nước là Ấn Độ, Ma-lai-xi-a, Ô-xtrây-li-a có loài cây này. Với độ bị đe doạ “bậc R”, thế giới khuyến nghị cần trồng bàng vuông vùng ven biển đất liền nhưng bộ đội ta không những bảo tồn nhiều cây “cụ” mà còn “phát minh” ra cách chiết cành bàng vuông thay cho sinh trưởng bằng phát tán hạt tự nhiên. Thêm một kỷ lục khó tin nữa, đầu xuân 2013, trên đảo chìm Thuyền Chài, chiến sĩ ta đã trồng thành công bàng vuông trong chậu mà cây bàng vẫn ra quả lứa đầu!

Cổ thụ Trường Sa trên đảo Nam yết tháng 5-1975 (ảnh: Văn Minh)
          Hầu hết các đảo nổi nay đều rợp sắc xanh dừa, mù u, phong ba, bão táp, bàng vuông, phi lao…xen lẫn những vườn rau muống, dền, cải, dàn bầu, dàn mướp…ngăn ngắt giữa màu xanh thăm thẳm của đại dương.
         Gần 40 năm áo xanh ươm mầm xanh
 Trong bút ký “Sống ở Trường Sa” in tháng 7-1976, tác giả Hà Đình Cẩn kể: “Năm ngoái, khi vừa đặt chân lên Trường Sa, các chiến sĩ xin đất liền chở ra cho hàng trăm tấn đất phù sa, hạt rau và những giống hoa”. Ý thức xây dựng một Trường Sa xanh đã có từ những ngày đầu.
Chân dung tướng Hoàng Kiền - người đầu tiên và duy nhất mang…phân trâu ra Trường Sa
         Mấy ai biết người đầu tiên mang…phân trâu ra Trường Sa nay là một vị tướng? Đó là Thiếu tướng Hoàng Kiền, Giám đốc Ban Quản lý dự án 47, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh Hải quân 83 (nay là lữ đoàn). Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, cứ mỗi mùa đơn vị ra xây dựng Trường Sa, dù cấp trên không giao nhiệm vụ nhưng ông Kiền tự nguyện cùng anh em ra các vùng ngoại ô Đà Nẵng, chọn nơi đất tốt, đất màu xúc mang về. Một bộ phận khác lặn lội đi nhặt phân trâu, bò về nhào với đất, rồi rải ra phơi khắp sân trung đoàn, đợi khô đóng gói vào từng bao. Khi hành quân xây đảo, ông Kiền cho chở đất phân trâu rồi chuyển xuống tàu, mang ra tặng các đảo. Mỗi năm số lượng đất phân trâu chừng 70 tấn, trong suốt 10 năm, những người lính công binh đã tự nguyện gửi tặng ra đảo gần 1.000 tấn đất phân trâu như thế.
Để đảo xanh, chỉ có sự cần cù thì chưa đủ. Một buổi chiều tháng sáu bỏng rát, khi lên đảo Sơn Ca, ông Kiền lặng người nhìn thấy một người lính trẻ ngồi khóc bên gốc bàng vuông vừa chết, thân ngả màu đỏ rực. Ông lại gần hỏi han:
- Vì sao cháu khóc?
- Cây của cháu chú chết rồi chú ơi!
- Thôi, cây chết thì trồng cây khác…
- Đảo phát động phong trào “mỗi người trồng một cây” để lúc hết nghĩa vụ, anh em về sẽ khắc tên mình lên cây đó. Thế mà…
Bộ đội Trường Sa coi cây như bạn, như con, cây chết ai không xót xa? Hình ảnh người lính  khóc bên cây bàng vuông khiến ông thao thức. Phải chăng cây chết vì đảo cằn cỗi quá, lại thiếu nước ngọt tưới cây. Muốn trồng được cây phải giải quyết vấn đề gốc là “ngọt hoá” đảo. Con mắt kỹ sư công trình nhìn nhận: Chỉ có cách xây kè để giữ nước mưa ở lại với đảo.
Đảo Sơn Ca hôm nay rợp bóng cây xanh - ảnh: Văn Minh
Trở về đất liền, trong một hội nghị giao ban Quân chủng, ông mạnh dạn mang tâm tư ấy bàn với Tư lệnh. Các dự án xây tường kè bao quanh đảo, giúp giữ lại nước mưa, ngọt hoá đảo từ đó được triển khai. Ngày qua ngày, năm qua năm, Trường Sa ngày một thêm xanh hơn trước.
         “Cây chỉ thị” chủ quyền
Nhật Bản có cây anh đào, nước Nga có hàng thuỳ dương soi bóng, Cam-pu-chia thốt nốt, Ca-na-đa xứ sở những hàng phong, Ấn Độ cây đa, Việt Nam cây tre kiên cường, bất khuất… Cách đây mấy năm, khi hoàn thành xong việc phân giới cắm mốc biên giới, có một vị tướng đã đề xuất trồng những loài “cây chỉ thị” biên giới trên các rẻo đất biên cương. Các dự án trồng cây chỉ thị biên giới từ đó đã ra đời. Trồng “cây chỉ thị chủ quyền” ở Trường Sa - tại sao không?
Ở Trường Sa, người lính đã tự làm điều đó từ lâu rồi.     
Anh Lương Xuân Giáp cho biết, trước khi Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật ra nghiên cứu trồng thử nghiệm một số loài cây trên Trường Sa Lớn để tìm ra một số loài cây bền vững thì người lính đã tự ươm trồng nhiều loài cây. Ngoài “bàng vuông, phong ba, bão táp” là những cây gần như đã thành biểu tượng của Trường Sa, anh em đã ươm thành công nhiều cây khác. Tre là một ví dụ.
Chiến sĩ đảo Nam Yết chăm sóc cây tre bên cột mốc chủ quyền tháng 5-2014 - ảnh: Văn Minh
Thượng tá Ngô Duy Đỗ, Phó lữ đoàn trưởng về quân sự Lữ đoàn 146 từng được mọi người mệnh danh là “giáo sư cây” của đảo Song Tử Tây từ ngày anh còn là chỉ huy trưởng đảo này. Giáo sư chẳng những giỏi quản quân mà còn giỏi “quản cây” khi ngày đầu ra đảo, anh đã tự tay đi đếm và thống kê toàn đảo có hơn 2.500 cây cổ thụ. Anh cũng là một trong những người đầu tiên mang tre ra trồng ở Song Tử Tây. Anh còn truyền cảm hứng yêu cây cho bộ đội khi từ thời anh Đỗ làm “chúa đảo”, nhiều loài cây như dừa, tre, hoa súng, lục bình đều do chính anh lấy giống từ đất liền mang ra đảo. Nhớ đến hình ảnh cây tre đằng ngà của Thánh Gióng diệt giặc Ân từ trong cổ tích, anh đã gọi về đất liền, cô em dâu là kỹ sư nông nghiệp huyện Cam Lâm nhiệt tình tận tay đi mua hai khóm tre đằng ngà gửi ra đảo. Sau bao vun xới, chở che, những cụm tre “Thánh Gióng” đầu tiên đã mọc lên trên quần đảo bão tố.
Cùng thời điểm ấy, đoàn cán bộ UBND tỉnh Phú Thọ ra thăm Trường Sa cũng mang 30 khóm tre đằng ngà ra tặng cho 9 đảo ở Trường Sa. Năm ngoái, trên chuyến tàu thân nhân ra thăm bộ đội Trường Sa, có người cha ở Tân Kỳ (Nghệ An) ra thăm cả con trai và con rể đều là bộ đội giữ đảo đã mang ra 4 khóm tre là quà bà con thôn xóm gửi tặng hai anh.
Mần xanh bàng con trên đảo Sinh Tồn Đông tháng 5-2014
         Tre theo người ra đồng lao động. Tre cùng xe thồ lên chiến dịch Điện Biên. Tre trên tay người mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Tre lên rừng thành luỹ thép, thành chiến khu vây thù, che bộ đội. Và bây giờ, tre lại xuống biển cùng người lính giữ đảo. Có chiến sĩ đã mơ ước một ngày không xa, cùng với những hàng phong ba, bão táp, tre gai, tre đằng ngà sẽ mọc thành khóm, thành luỹ tre bao quanh đảo như bao quanh làng, vừa ngăn gió bão, vừa thành nơi trú ngụ cho chim cò…Tôi thầm nghĩ, ước vọng ấy đâu phải là viển vông khi mới đây Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh, người xây dựng Làng tre Phú An ở Bình Dương được nhận giải thưởng của Liên Hiệp Quốc về đa dạng sinh học đã cho biết về khả năng diệu kỳ của cây tre. Người Nhật đã từng trồng thí nghiệm tre trên một vùng đất ở gần Hiroshima – thành phố bị tàn phá bởi bom nguyên tử hồi năm 1945, vùng đất mà chất độc phóng xạ tưởng như không thể làm cây nào sống được nhưng cây tre đã đâm chồi trên đất nhiễm phóng xạ chỉ sau vài tháng.
         Có tre là có làng. Sẽ có những làng đảo rợp bóng tre trong một ngày không xa…
 (Kỳ sau: Cánh cò trên làng đảo)


Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ SAU VỤ GIÀN KHOAN?

TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ SAU VỤ GIÀN KHOAN?


NVM Blog - Theo dự báo của kỹ sư tàu biển kỳ cựu Đỗ Thái Bình (Bình Biển), sau trò "giàn khoan", Trung Quốc sẽ đưa tàu "khảo cổ" vào vùng biển của ta và lần này, rất có thể địa bàn sẽ là Trường Sa thân yêu của chúng ta. Khảo cái khỉ gió gì không biết nhưng chúng ta hãy xem bài viết dưới đây và cùng suy ngẫm về những trò khốn ấy qua phân tích của bác Bình Biển, một người vừa hiểu đóng tàu vừa rất hiểu "Tàu"…

(Bài viết của kỹ sư Đỗ Thái Bình)

Tiếp sau trò "giàn khoan "là tàu "khảo cổ"

9 Tháng 6 2014 lúc 21:31

Toàn cảnh tàu TQ KC số 1 trên sông Trường Giang 

Tàu TQKC số 1 lúc còn nằm trên đà Xưởng Đông Phong Trùng Khánh,ven sông Trường Giang và nằm sâu trong lục địa TQ

Buồng điều khiển khá thoáng rộng

Tàu sơn trắng và gắn cái huy hiệu China Cultural Heritage  
Từ lâu, Trung Quốc đã đầu tư khá lớn cho công tác nghiên cứu dân tộc học, khảo cổ học…để làm nền tảng cho công cuộc tiến ra đại dương,thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” .Một hệ thống bảo tàng dày đặc về hàng hải ,từ bảo tàng Trịnh Hòa trên đỉnh núi huyện Tấn Ninh Côn Minh Vân Nam tới những bảo tàng tại Nam Kinh, Tuyền Châu, Ma Cao …với hàng nghìn hiện vật khai quật được nhằm chứng minh mình cũng là “dân biển “ đã đặt chân tới nhiều vùng xa xôi trên thế giới, nhiều vùng là chủ quyền của mình.Có dịp tới Thượng Hải ,đi về phía khu trường Jiaoda mới (Đại học GT Thượng Hải) ,bạn sẽ phải ngạc nhiên về quy mô cái Bảo tàng Hàng hải mới xây một hai năm nay .Nhưng sắp tới,bảo tàng Hàng hải tại Thiên Tân còn to hơn nhiều, do kiến trúc sư người Úc vẽ.Và có lẽ ít có quốc gia  nào có loại tàu chuyên làm công tác khảo cổ vì công việc này dùng nhiều công cụ khác nhau,việc làm một con tàu chuyên dùng sẽ vừa thừa vừa thiếu .Thế mà Trung Quốc có con tàu chuyên làm việc này .Con tàu đầu tiên với tên  “Zhongguo Kaogu 01 中国考古 ” tức là tàu “Trung Quốc Khảo cổ 01 “ đang nằm tại Ma cau ,chuẩn bị hành trình xuông quần đảo Trường Sa như nhiệm vụ thư thiết kế ban đầu của con tàu đã ghi rõ !
Đó là tàu khảo cổ TQ đầu tiên do Viện Thiết kế 701 với Viện trưởng tên là Zuo Wenkeng (左文铿 Tả văn Khanh)của Tập đoàn đóng tàu CSIC thiết kế và đóng tại Xưởng Đông Phong với giám đốc tên là Gou yuanjun (苟元君Cẩu Nguyên Quân –cẩu đây là cẩu thả chứ không phải là chó !) tại Trùng Khánh. Tàu có chiều dài tổng cộng 56 mét , mớn 2,6 mét , lượng chiếm nước 900 tấn , chịu sóng gió cấp 8 ,đi biển 30 ngày với hai kho thực phẩm và nước uống  . Thiết bị đẩy tàu là động cơ điện .Được hạ thủy ngày 24/01/2014 và vùng hoạt động được ghi rõ trong nhiệm vụ thư thiết kế là vùng ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,nhất là Trường Sa ! Vì là tàu nhỏ, mớn nước thấp , lại mang nhiều thiết bị nên người ta cố gắng hạ thấp trọng tâm tàu, nhưng như thế tàu lại dễ lắc trên sóng .Bởi vậy để chống lắc cho tàu ,với một số lượng đông đảo các khoa học gia làm việc và sống trong 20 căn phòng khép kín đủ tiện nghi kể cả tắm nóng lạnh,tàu sử dụng két chống lắc ở hai bên mạn. Tốc độ tối đa là 12 hải lý/giờ và tầm hoạt động độc lập là 30 ngày căn cứ theo thực phẩm còn theo nhiên liệu không được nói rõ nhưng chỉ thấy ghi đi được xa bờ 200 km và trở về trong thời gian 9 giờ chắc là dự tính từ các căn cứ đang được xây dựng quy mô tại Trường Sa  như Gạc Ma chẳng hạn.  Tàu sơn trắng , đáy đỏ với chủ tàu là “Quốc gia Văn vật Cục” tức Cục Bảo tàng của Trung Quốc.Thiết bị đẩy tàu kiểu diesel-điện chắc để chống ồn khi chạy chân vịt.Tàu trang nhiều thiết bị :địa vật lý,nhận dạng, định vị dưới nước, sonar, các thiết bị đo đạc, lặn dưới sâu ,ghi hình ảnh,quét thủy lôi bảo vệ tàu,scuba,phòng thí nghiệm .Từ tháng Giêng năm 2014 tới tháng Năm nó di chuyển dần từ Trùng Khánh theo sông  Trường Giang tới Nam Kinh,Thượng Hải ,Thanh Đảo Macau và rồi tiến xuống Trường Sa.
Bằng chiêu trò khảo cổ và những xác tàu chìm phát hiện được, Trung Quốc đang thực hiện yêu sách chủ quyền trên Biển Đông, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của chúng ta. Có thể thấy con tàu này có nhiều điều vô lý vì như chúng tôi đã nói ở trên ,nó vừa thiếu vừa thừa. Để khám phá ban đầu thì nó quá thừa nhưng khi triển khai nó lại quá thiếu .Ví như khi khảo cứu tàu chìm Cù Lao Chàm ,ta biết rằng người ta đã huy động một số  tàu kéo ,chuông lặn ,buồng hồi áp ...trong khi để sơ khảo bản đồ tàu chìm vùng Biển Đông ,Michael từ Singapore chỉ huy động tàu nhỏ với sonar quét ngang và vài thiết bị là đủ.Việc gương oai với con tàu dán nhãn khảo cổ ,bên mạn có huy hiệu "China Cultural Heritage " Di sản Văn hóa Trung Quốc bằng tiếng Trung-Anh muôn nói lên điều gì ?
 Biết rằng với một nền kinh tế yếu ớt sau chiến tranh ,khoa khảo cổ dưới nước của chúng ta dù non yếu cũng đã có nhiều nỗ lực với 9 cuộc khảo cứu có sự tham gia của nước ngoài,với phát hiện bãi cọc Bạch Đằng ,với việc thành lập phòng khảo cổ dưới nước vào đầu năm nay tại Viện Khảo cổ phố Phan Chu Trinh Hà Nội .Nhưng liệu có thể làm hơn thế được không ? Có một chuyện nhỏ sau đây :Cả vùng Sầm Sơn Thanh Hóa ,ai cũng biết tới anh chàng cao lớn có tên là Nick từ Úc sang , hướng dẫn ngư dân đóng chiếc bè để thực hiện chuyến vượt Thái Bình Dương cách đây tròn 20 năm.Nghiên cứu cái bè tre  tới từng chi tiết,anh lại chỉ huy ngư dân làm theo đúng bản vẽ sao cho bè đúng là cổ, không dùng một vật liệu nào của thế kỷ 20,tất cả từ tự nhiên như cha ông ta đã làm. Với cái bè đó,thủy thủ Lương Viết Lợi Sầm Sơn đã cùng 3 người nữa dưới sự chỉ huy của Tim Severin vượt biển sang tới gần Mỹ.Tháng Ba vừa qua,Tim tới Sài Gòn và báo Tuổi Trẻ đưa tin liên tục trong 5 số báo liên tiếp .Nhiều bạn trẻ yêu du lịch rất quan tâm nhưng không hề thấy các nhà dân tộc học,khảo cổ học Việt Nam lên tiếng và có lẽ cũng chưa ai liên hệ với Nick hay Tim .Trong khi đó Nick là một chuyên gia đầu bảng về tàu thuyền cổ và sau chuyến công tác tại Sầm Sơn anh có công trình khảo cứu về bè tre Sầm Sơn đăng trên tạp chí khoa học khảo cổ thế giới .Và tạp chí này được trưng bày trang trọng trong Bảo tàng thuyền cổ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc vì Nick là một cộng tác viên hàng đầu với họ !