Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Điều ít biết về CHÂN DUNG TỔ QUỐC Kỳ 1: LÃNH THỔ VIỆT NAM TỪNG KÉO DÀI TỚI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC)



Điều ít biết về CHÂN DUNG TỔ QUỐC
Kỳ 1: LÃNH THỔ VIỆT NAM TỪNG KÉO DÀI TỚI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC)
         NVM BLOG - Đó là sự thật 100%. Chiều nay, trong cơn đau khi nằm trên giường bệnh, trong khi Giang Mèo mải đi nhậu nhẹt chơi bời thì NVM dù trọng bệnh vẫn miệt mài đọc sách và đã tìm ra điều đó trong một cuốn sách quý, cuốn “Việt Nam – đất, biển, trời” của Nhà báo, luật gia Lưu Văn Lợi, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ. Ông cũng từng là thư ký toà soạn Báo Quân đội nhân dân năm 1951.
Luật gia, chuyên gia về biên giới Lưu Văn Lợi (ảnh: Tuổi trẻ)

         Cuốn sách nhỏ được NXB Công an Nhân dân ấn hành năm 1990, cách đây đã 24 năm nhưng đọc lên còn nóng hổi tính thời sự, vẫn là những việc cần hiểu, cần làm vì kế sách giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ liêng thiêng của Tổ quốc. Dù năm đó, cuốn sách còn mở ngoặc đơn “Lưu hành nội bộ” nhưng được biết gần đây, nó đã được NXB Thanh niên ấn hành rộng rãi. Xuân Canh Ngọ năm ấy, khi viết lời tựa cho cuốn sách, ông Lưu Văn Lợi nói rằng, ông muốn “phác hoạ chân dung Tổ quốc”, giới thiệu những vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của nước ta, đồng thời ông dự báo “Những điều đối với nước ta còn là chuyện của ngày mai thì hiện nay thực tế đang diễn ra tại nhiều nước khác. Chiều hướng phát triển của khoa học kỹ thuật và pháp luật quốc tế là không thể cưỡng lại được”.
Bìa cuốn sách "Viêt Nam - đất, biển, trời"
         Đọc cuốn sách, không khỏi không kinh ngạc bởi tầm nhìn xa, sự thông tuệ và mẫn cảm của một chuyên gia về biên giới, một con người tâm huyết tuyệt vời đã để lại cho chúng ta một kho báu từ cuốn sách nhỏ. Có những điều mà không đọc sách, ta không biết được hình hài Tổ quốc từng như thế nào? Ví như chuyện dưới đây:
1/ LÃNH THỔ VIỆT – TRUNG TỪNG ĐẾN TẬN TỈNH QUẢNG ĐÔNG, NƠI “PHÂN MAO CỎ RẼ”
Ở trang 18 của cuốn sách, ông Lưu Văn Lợi viết: “Sách xưa của Trung Quốc thường nói biên giới Việt Nam và Trung Quốc ở núi Phân Mao (tức núi Cỏ Rẽ: Trên đất Việt Nam thì cỏ ngả về Việt Nam, trên đất Trung Quốc thì cỏ ngả về Trung Quốc). Các cụ ta ngày xưa cũng thường nói: “Bắc Nam bờ cõi “phân mao”. Cũng theo sách Trung Quốc, Phân Mao Lĩnh nằm ở phía tây huyện Phòng Thành (Khâm Châu, tỉnh Quảng Đông). Tương truyền Mã Viện, sau khi dẹp xong Giao Chỉ đã dựng một cột đồng ở núi Phân Mao vùng đông Cổ Sâm. Cột đồng có thật hay không, điều này chưa rõ nhưng có núi Phân Mao ở có động Cổ Sâm. Trong số 6 châu mà Mạc Đăng Dung đã nộp cho nhà Minh khi cướp ngôi nhà Lê, có châu Cổ Sâm. Như vậy, ngày nay cả núi Phân Mao, cả Cổ Sâm đều nằm trên lãnh thổ Trung Quốc”.
Sự thật này gần đây đã được nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc xác nhận qua bài báo “Miếu thờ Trưng Vương trên đất Hồ Nam” đăng trên báo Hà Nội Mới
Trên đất Trung Quốc mà lại có đền thờ Bà Trưng ? Lạ, nhưng có thật. Vì nguồn thông tin này do hai nho sỹ Việt Nam từng đi sứ sang Trung Quốc, từng nhìn thấy ngôi đền và ghi chép lại trong thơ văn của họ. Đó là Nguyễn Thực và Ngô Thì Nhậm.

Nguyễn Thực (1554 - 1637) người làng Vân Điềm (tên nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595). Nguyễn Thực là vị quan thanh liêm, chính trực, được người đương thời trọng vọng. Trong thời gian được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông có làm một số thơ, nhưng sau đó bị thất lạc. Tới thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn sưu tầm được 10 bài, trong đó có 4 bài làm trong thời gian đi sứ. Trong 4 bài này, có một bài cho biết là ở Trung Quốc, phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh có đền thờ Trưng vương. Đó là bài Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh (về Nam đến rặng núi Ngũ Lĩnh):
Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi
    Dịch:
Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày

Tác giả viết bài này khi về tới dãy núi Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc, tức dãy núi làm ranh giới hai nước Sở, Việt thời cổ. Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam (phía Nam hồ Động Đình) và Việt là khu vực tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Về tứ thì đây là bài thơ đẹp một cách hồn hậu. Có thể, khi đó là cuối mùa đông nhưng gió xuân đã thổi nên tùng bách vẫn xanh um, mà một bông hoa mai trắng đã nở chào mùa xuân mới đang tới.


Song, chúng tôi lại lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 - Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43. Cột đồng là muốn nhắc lại việc Mã Viện cướp các trống đồng đất Việt, đúc thành cột dựng ở một số nơi để ghi chiến công (cũng như đem về Trường An đúc ngựa đồng đặt ở cung vua). Còn dấu cũ Trưng Vương, hẳn là dùng để chỉ ngôi đền đã được dựng lên để thờ vị nữ anh hùng của dân Việt. Nói rằng đó là ngôi đền thờ bà Trưng vì còn một chứng cứ nữa. Đó là điều mà hai thế kỷ sau Ngô Thì Nhậm có dịp nhắc lại khi ông đi sứ.

Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) quê ở Tả Thanh Oai (tên nôm là làng Tó) nay thuộc huyện Thanh Trì. Năm 1793, ông có đi sứ nhà Thanh, có sáng tác tập Hoàng Hoa đồ phả - một tập thơ có cả những bức vẽ. Trong tập đó có một bài nhan đề Phân Mao lĩnh (Núi Phân Mao):
Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao
Hoàng Mao dịch lộ nhậnPhân Mao
Thiên thư bất tận Hành Sơn Lĩnh
Địa khí hoàng phù Nhạn Trạch Mao
Trưng Trắc kiếm mang khai động phủ
Uy đà quế đố lạc sơn sào
Phong lai giải uấn tay nam lợi
Vị ứng Hùng Bi vạn nhận cao
Nghĩa là:
Một dải núi xanh ở nơi giáp giới với Sở và Việt
Trên đường đến trạm Hoàng Mai nhận ra đó là núi Phân Mao
(Ranh giới của Trung Hoa là do) Sách trời định ra không quá núi Hành Sơn (1)
Khí đất làm trôi ngược lông chim nhạn ở Nhạn Trạch (về phía nam)
Lưỡi kiếm của bà Trưng mở ra động phủ
Sâu quế của Triệu Đà còn đầy trong hang núi
Gió từ tây nam làm nguôi cơn nồng
Coi thường núi Hùng Bi dù cao tới muôn sải (2)
Ngô Thì Nhậm có lời chú thích rằng: "Núi Phân Mao ở địa giới Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, có cỏ mao rẽ hai ngả Nam Bắc, trên đường đi có biển đề Phân Mao lĩnh".
Như vậy thì núi này là chỗ ranh giới hai nước Sở, Việt. Như đã nêu ở trên, Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực hai tỉnh Lưỡng Quảng ngày nay. Và vậy là, theo bài thơ này, tại Hồ Nam có đền thờ bà Trưng Trắc.
Không rõ về sự kiện này thì Ngô Thì Nhậm rút từ tư liệu nào? Chính sử Việt Nam và Trung Quốc không có ghi chép gì về sự kiện đó. Có thể đó chỉ là truyền thuyết ? Nhưng cơ sở để hình thành truyền thuyết này thì có thể giải thích được. Các sách chính sử có ghi là sau khi Mã Viện hoàn thành công việc xâm lăng đã bắt trên 300 cừ suý (có thể hiểu là "tướng lĩnh cừ khôi") người Việt đưa về Trung Quốc, an trí tại Linh Lăng. Linh Lăng chính là phần đất phía Nam tỉnh Hồ Nam. Số ba trăm cừ suý đó, tất phải là các thủ lĩnh nghĩa quân, tướng lĩnh của Hai Bà và các lạc hầu, lạc tướng, đã kiên quyết chống lại quân Mã Viện. Những người dân Việt yêu nước này, tuy bị đầy ải xa quê hương nhưng vẫn hướng về đất Tổ, lập "miếu Bà Trắc" để tưởng nhớ thủ lĩnh của mình, thể hiện ý chí bất khuất của người Việt. Những câu chuyện về cuộc khởi nghĩa kháng chiến ngày đó tất cũng được lưu truyền trong cộng đồng đó, nhưng rồi trải qua bao đời, chuyện bị "khúc xạ", trở thành truyền thuyết Hai Bà Trưng đánh Mã Viện trên đất Hồ Nam.
Miếu Bà Trắc ở bên hồ Động Đình đúng là biểu tượng hiên ngang bất khuất của người Việt thời Hai Bà Trưng, dù bị tách khỏi quê hương. Còn về cột đồng được nhắc tới trong thơ Nguyễn Thực thì có thể hiểu là Mã Viện sau khi an trí các cừ suý Việt ở Linh Lăng thuộc Hồ Nam, Ngũ Lĩnh thì cho dựng một (hoặc nhiều) cột đồng để tự biểu dương chiến công. Nhưng các cừ suý Việt đã xây ngay đền thờ Hai Bà ở chỗ có cột đồng nọ để khẳng định bản lĩnh của cộng đồng mình.
Dù sao, "Miếu thờ Trưng Vương" ở đất Hồ Nam là có thật”
Kỳ 2: Núi Phân Mao, động Cổ Sâm nay ở đâu (bài của Trần Việt Bắc)
KỲ 3: Việt Nam từng nhiều lần đòi được đất từ Trung Quốc
P/S: NVM Blog giữ bản quyền bài viết này, mọi sự đăng tải lại phải được sự đồng ý của NVM